vanban.org

Bản án 527/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giữ nguyên bản

án sơ thẩm 149/2018/HS-ST ngày 11/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giữ nguyên bản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 527/2018/HS-PT
Ngày: 20/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Trương Công Huấn.

Các"Thẩm"phán:""

1.Ông Phan Văn Liệt

2.Bà Lê Kim Loan

Thư"ký"phiên"tòa:"Ông Lưu Quốc Khánh, thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"

tòa: Ông Phan Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số

475/2018/HSPT ngày 22/10/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn A, theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 5227/2018/QĐXXPT-HS ngày 05/11/2018, do có

kháng cáo của bị cáo đối với bản án số 149/2018/HS-ST ngày 11/9/2018 của

Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị!cáo!có!kháng!cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn A, sinh ngày 03/11/2000 tại tỉnh An Giang; giới tính:

Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề

nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn

giáo: không; con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thị E; hoàn cảnh gia đình: chưa

có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 04/4/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị!cáo!không!có!kháng!cáo,!không!bị!kháng!cáo,!kháng!nghị:!!

Trần Chí G, sinh năm 1998.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 04/4/2018, trên Tỉnh lộ 8, thuộc địa phận xã

H, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện K kết hợp Công an xã H, huyện K phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Chí G điều khiển xe máy mang biển số 67B2- 154.83 chở bị cáo Nguyễn Văn A lưu thông trên đường và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Lực lượng công an thu giữ của bị cáo Em:

-1 điện thoại di động;

-3 gói nylon chứa các hạt tinh thể không màu nghi là ma túy.

Theo kết luận giám định 696/KLGĐ-H ngày 10/4/2018 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định được tinh thể không màu trong 3 gói nylon vừa nêu có khối lượng 3,8843gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Thu giữ của bị cáo A 1 điện thoại di động và 1 xe máy mang biển số

67B2- 154.83.

Trong quá trình điều tra, bị cáo A và G khai nhận như sau: Ngày

03/4/2018, Trần Chí G rủ bị cáo A đi từ tỉnh Bình Dương đến chợ Xóm Củi, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá để sử dụng và mang về An Giang bán lại cho người khác nhằm kiếm lời. A đồng ý và giao cho bị cáo G 500.000đ và 1 sợi dây chuyền vàng (trị giá khoảng 3.000.0000đ) để bị cáo G mua 3 gói ma túy đá của một người phụ nữ (chưa rõ lai lịch). Ngày 04/4/2018, G cất giấu 3 gói chất ma túy đá trong điện thoại di động và chở A đi từ tỉnh Bình Dương về tỉnh An Giang; trên đường đi thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu ở phần trên.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

-1 gói niêm phong mang số vụ 696/2018 có chữ ký của giám định viên và

cán bộ điều tra (bên trong là ma túy);

-1 xe gắn máy hiệu Wave Trung Quốc, biển số 67B2-154.83, số máy:

010410, số khung 010410, đã qua sử dụng.

-1 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imel: 355677/06/453088/0, đã qua

sử dụng.

-1 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, số Imel: 861570038777975,

đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 12/7/2018, Viện kiểm sát nhân

dân huyện K truy tố các bị cáo Trần Chí G và Nguyễn Văn A về tội “Mua bán

trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015,

được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 149/2018/HS-ST ngày 11/9/2018 của Tòa

án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố Nguyễn Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 12; điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 3 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

04/4/2018.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Trần Chí G 4 năm 6 tháng tù, tuyên xử lý

vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.

Ngày 19/9/2018, bị cáo A có đơn kháng cáo với nội dung: Mức án 3 năm

tù đối với bị cáo là quá nặng. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm,"

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Việc Tòa án nhân dân

huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất

ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng

pháp luật. Mức án 3 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo

là tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo

được hưởng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát

viên và bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực

hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2].Căn cứ “Biên bản bắt người phạm tội quả tang” do Công an xã Tây

Thạnh, huyện K lập ngày 04/4/2018, lời khai nhận tội của bị cáo A, G và các tài

liệu, chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định: Vào khoảng 12 giờ 10 phút

ngày 04/4/2018, tại đường Tỉnh lộ 8 thuộc ấp 2A, xã H, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn A và Trần Chí G có hành vi tàng trữ 3,884gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán cho người khác để kiếm lời.

[3].Hành vi của bị cáo A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn trật

tự cộng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trong việc quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị luật pháp nghiêm cấm nhưng do động cơ tư lợi nên vẫn cố ý vi phạm. Đối chiếu với các quy định của pháp luật, có đủ cơ sở để xác định bị cáo A đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo theo tội danh, điều luật như đã vừa nêu là có căn cứ.

[4].Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; do vậy Tòa án cấp sở thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị là có căn cứ.

Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng

Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét xử lý đối với bị cáo A là đúng quy định.

Căn cứ vào tính chất mức độ vi phạm, các tình tiết giảm nhẹ như đã được

nêu, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo A 3 năm tù là đúng pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5].Kháng cáo của bị cáo A không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu

án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

1.Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giữ nguyên bản

án sơ thẩm 149/2018/HS-ST ngày 11/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”

Áp dụng khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 12, điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 3 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

04/4/2018.

2.Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

!!Nơi!nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND TC;

(1)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND cấp cao tại TP.HCM

(1)

- VKSND TP. HCM;

(3)

- VKSND huyện K;

(1)

- PC53 - CATP;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- Đương sự:

(1)

- Chi Cục THA huyện K;

(1)

- TAND huyện K;

(2)

- Công an huyện K;

(1)

- Sở Tư pháp TP.HCM;

(1)

- UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;

(1)

Trương Công Huấn

- Lưu: THS, hồ sơ, VT (22).

(4)

Cỡ chữ