vanban.org

Bản án 526/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 09/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyện Th, Sửa bản án hình sự số 184/2020/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

Tuyên bố bị cáo Ngô Nguyện Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyện Th, Sửa bản án hình sự số 184/2020/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 526/2021/HS-PT
Ngày: 09/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Đào Bá Sơn Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Lập

Ông Lê Thanh Bình

- Thư ký phiên toà:

Ông Lê Đức Lợi – Thư ký toà án nhân

dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Minh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 157/2021/TLPT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Ngô Nguyện Th. Do có kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyện Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 184/2020/HSST ngày 16/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Ngô Nguyện Th, sinh năm: 1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu: xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Ngô Nguyện T (đã chết); Mẹ đẻ: Mầu Thị Nh; Gia đình bị can có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: không Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cú trú - Có mặt.

Ngoài ra, đại diện người bị hại không kháng cáo Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17h20’ ngày 05/01/2020, bị cáo Ngô Nguyện Th (không có Giấy phép lái xe môtô) điều khiển xe môtô BKS 29S1-550.xx lưu thông trên đường Thụy Lâm, chiều Xuân Nộn đi Thụy Lâm, đến địa phận Đường Yên, Xuân Nộn, Đông Anh, Hà Nội thì xảy ra va chạm với xe môtô BKS 29-9XX-VR dung tích xi lanh 49cm3 do ông Bùi Xuân H (Sinh năm: 1952; trú tại: Cổ Miếu, Thụy Lâm, Đông Anh, Hà Nội) điều khiển lưu thông chiều ngược lại. Khi tham gia giao thông, bị can Thuật và ông Hựu có đội mũ bảo hiểm, Hậu quả:

+ Ông Bùi Xuân H bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa Đông Anh, chuyển tiếp Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn cấp cứu; do thương tích nặng, gia đình nạn nhân xin Bệnh viện cho ông Hựu về nhà riêng và tử vong hồi 02h10' ngày 06/01/2020.

+ Bị cáo Ngô Nguyện Th bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa Đông Anh cấp cứu. Kết luận giám định pháp y thương tích số 1791/C09-TT1, ngày 10 tháng 4 năm 2020, Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Nguyện Th tại thời điểm giám định là 16% sức khỏe (Mười sáu phần trăm). Các tổn thương của Ngô Nguyện Th do tác động tương hỗ với vật tầy gây nên.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường đã bị xáo trộn do xe môtô BKS 29-9XX-VR và xe môtô BKS 29S1-550.XX đổ sau tai nạn.

Hiện trường dựng lại trên cơ sở hiện trường ban đầu và lời khai anh Dương Văn H: Mặt đường rải nhựa nhẵn, phẳng rộng 10,8m, giữa đường có vạch sơn ngắt quãng chia hai phần đường xe lưu thông; dọc hai bên chiều đường có vạch sơn liền kẻ song song.

Lấy mép đường bên phải chiều Thụy Lâm đi Xuân Nộn làm chuẩn:

Hiện trường để lại:

+ Vết cày đứt quãng trên mặt đường (được đánh số thứ tự 1 trong sơ đồ) dài 7,4m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 3,8m, cuối vết cầy cách mép đường làm chuẩn 3,15m.

+ Vết cày trên mặt đường (được đánh số thứ tự 2 trong sơ đồ) dài 6,05m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 3,1m, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 2,5m.

+ Vết cày trên mặt đường (được đánh số thứ tự 3 trong sơ đồ) dài 4,05m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 3,95m, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 3,3m.

Tương ứng điểm cuối các vết cày số 1,2 và 3 là vị trí xe môtô BKS 29-9XX-VR đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng mép đường làm chuẩn. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 1,95m. Trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 3,05m, cách cột đèn chiếu sáng TC-25 là 1,1m, cách đầu vết cày số 1 là 8,4m và cách trục bánh sau xe môtô BKS 29S1-550.XX là 19,4m.

+ Vết cày đứt quãng trên mặt đường (được đánh số thứ tự 6 trong sơ đồ) dài 2,3m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 5,95m và cách vị trí vết cày số 1 là 7,4m; cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 6,1m.

+ Vết cày trên mặt đường (được đánh số thứ tự 7 trong sơ đồ) dài 4,2m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 5,25m, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 7,45m.

+ Vết cày trên mặt đường (được đánh số thứ tự 8 trong sơ đồ) dài 2,55m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 6,3m, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 6,85m.

+ Vết cày trên mặt đường (được đánh số thứ tự 11 trong sơ đồ) dài 1,95m, đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn 6,2m, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn 6,55m.

Tương ứng điểm cuối các vết cày số 6,7,8 và 11 là vị trí xe môtô BKS 29S1-550.XX đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng Thụy Lâm. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 7,4m. Trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 6,65m.

+ Vị trí vùng dầu (được đánh số thứ tự 4 trong sơ đồ) KT (8,5x0,6)m, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 2,3m.

+ Vị trí vùng dầu (được đánh số thứ tự 12 trong sơ đồ) dài 1,4m rộng 8,55cm, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 6,1m.

+ Vùng máu (được đánh số thứ tự 4 trong sơ đồ) KT (1,63x0,83)m, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 1,5m và cách trục bánh sau xe môtô BKS 29-9XX-VR là 0,75m.

+ Vị trí vùng máu (được đánh số thứ tự 10 trong sơ đồ) KT (0,38x0,55)m, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 9,95m.

Tạm giữ đồ vật, tài liệu trong quá trình điều tra:

- Xe môtô BKS 29S1-550.XX, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đen - bạc (SM: 7075065; SK: 075029) và đăng ký xe.

- Xe môtô BKS 29.9XX.VR, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh (SM: 9482621; SK: 9482590) và đăng ký xe.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi Bùi Xuân H số 62/GĐTT-TTPY ngày 10/01/2020, của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận:

- Các dấu vết thương tích: Bầm tím da rải rác vùng ngực KT (16x10)cm. Tay phải: Sây sát da mặt sau đốt 1 ngón V kích thước (1,5x0,5)cm. Tay trái: Rách ra mặt sau đốt 2 và đốt 3 ngón IV KT (4x1)cm, trên vết rách da này kiểm tra thấy gãy phức tạp xương ngón IV. Sưng nề, bầm tím mu bàn tay KT (6x8)cm. Sây sát da mặt trong cẳng tay KT 92x0,2)cm, kiểm tra cẳng tay thấy mất vững. Vùng nếp nằn bẹn phải có 01 vết thủng da KT (6,1x0,1)cm, dạng dấu vết kim tiêm. Chân trái: Sưng nề, bầm tím, rách da 1/3 mặt trước cẳng chân KT (7x5)cm, qua vết rách này kiểm tra thấy lộ xương cẳng chân. Sưng nề, bầm tím, rách da mu bàn chân KT (14x8)cm, qua vết rách này kiểm tra thấy lộ gân cơ. Biến dạng cẳng chân.

- Các dấu hiệu chính qua giám định: Các vết sây sát bầm tím da vùng ngực, hai tay, hai chân nhiều khả năng do va đập với vật tày gây nên. Mất vững cẳng tay trái, biến dạng cẳng chân trái nhiều khả năng do tay trái và chân trái va đập với vật tày với lực tác động mạnh gây nên.

- Mẫu máu thu được của nạn nhân Bùi Xuân H gửi giám định không có Ethanol.

- Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Bệnh án ngày 03/02/2020, Bệnh viện khoa Xanh Pôn xác định thương tích ông Bùi Xuân H như sau: Gãy hở cẳng chân trái KT (3x1)cm bờ nham nhở, dập nát mu bàn chân trái, vết thương ngón IV tay trái KT (3x0,5)cm. CT sọ não: Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, trong có vài bóng khí nhỏ, chỗ đày nhất 13mm, gây đè ép não thất bên cùng bên, đẩy lệch đường giữa sang phải 13mm. Tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải dày 4mm. Tụ máu dưới màng cứng dọc niềm đại não. Chảy máu dưới nhện một số rãnh cuộn não thùy trán, đỉnh, thái dương trái và thùy trái, đỉnh phải. Phù não lan tỏa hai bán cầu. Vỡ xương thái dương phải, đường vỡ không lan vào xương đá. Vỡ xương trán hai bên lan vào xương đỉnh và xương thái dương phải. Tình trạng người bệnh ra viện: Nặng, tiên lượng tử vong.

Xét nghiệm Ethanol (cồn) trong máu đối với ông Bùi Xuân H tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, kết quả: 85mg/100ml.

Bệnh án ngày 28/02/2020, Bệnh viện đa khoa Đông Anh xác định thương tích bị cáo Ngô Nguyện Th như sau: Sưng nề bàn tay trái, 01 vết thương ngón IV tay trái kích thước ~ 1cm, vết thương ngón V bàn tay trái KT (0,5x1)cm, sây sát bàn chân hai bên, sưng nề vùng đỉnh trái KT 92x2)cm. XQ: Gãy đốt 2 ngón III, đốt 1 ngón V tay trái, gãy xương bàn IV tay trái.

Xét nghiệm Ethanol (cồn) trong máu đối với bị cáo Ngô Nguyện Th tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, kết quả: 12mg/100ml.

Kết luận giám định số 319/C09 - P3, ngày 14/02/2020, của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an như sau:

1- a, Dấu vết gãy vỡ kim loại, trượt xước mất sơn màu đen ở mặt ngoài phía trước lốc máy bên trái xe môtô biển số 29S1-550.XX có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết biến dạng kim loại, trượt xước bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở mặt ngoài phía trước cần số bên trái xe môtô biển số 29.9XX. VR. Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 29.9XX. VR tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết biến dạng kim loại, trượt xước ở mặt ngoài phía trước cần số bên trái xe môtô biển số 29S1-550.XX có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, gãy vỡ kim loại ở mặt ngoài lốc máy bên trái xe môtô biển số 29.9XX. VR. Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 29.9XX. VR tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

b, Các dấu vết còn lại ở xe môtô biển số 29S1-550.XX và xe môtô biển số 29.9XX. VR được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đông Anh không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.

2- Không xác định được tốc độ của xe môtô biển số 29S1-550.XX và xe môtô biển số 29.9XX. VR theo dấu vết phanh khi tai nạn.

3- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe môtô biển số 29S1-550.XX và xe môtô biển số 29.9XX. VR thuộc phần đường bên trái hay bên phải theo hướng Xuân Nộn đi Thụy Lâm.

Ngày 05/5/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đông Anh ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với dấu vết cày đường tại hiện trường vụ tai nạn. Ngày 18/5/2020, Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an có kết luận giám định số 2719/C09-P3, kết luận:

a, Dấu vết cày đường (được đánh số thứ tự 1,2,3 trong sơ đồ hiện trường), chiều từ Thụy Lâm đi Xuân Nộn, có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với vật cứng. Không xác định được các dấu vết cày đường (được đánh số thứ tự 1,2,3 trong sơ đồ hiện trường) có phải do xe môtô biển số 29.9XX. VR để lại hay không.

b, Dấu vết cày đường (được đánh số thứ tự 6,7,8 và 11 trong sơ đồ hiện trường) chiều từ Xuân Nộn đi Thụy Lâm, có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với vật cứng. Không xác định được các dấu vết cày đường (được đánh số thứ tự 6,7,8 và 11 trong sơ đồ hiện trường) có phải do xe mô tô biển số 29S1-550.XX để lại hay không

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Ngô Nguyện Th khai nhận: ngày 05/01/2020, bị cáo điều khiển xe môtô lưu thông trên đường Thư Lâm, chiều Xuân Nộn đi Thụy Lâm, phía trước cùng chiều có một xe ôtô, loại xe con, đi chậm. Bị cáo bật xi nhan và thực hiện vượt chiếc xe trên dẫn đến va chạm với xe môtô do ông Hựu điều khiển đi chiều ngược lại, phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định đối với dấu vết trên phương tiện, kết luận giám định pháp y đối với tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định nguyên nhân gây ra vụ tai nạn là do Ngô Nguyện Th điều khiển xe môtô khi không có giấy phép lái xe, đi sai phần đường, vi phạm khoản 1 Điều 58 và Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Đối với hành vi điều khiển xe môtô khi trong máu có nồng độ Ethanol12 miligam/100 mililít của bị cáo Thuật, không cấu thành tình tiết định khung hình phạt do chưa đến mức quy định trong Luật GTĐB (Khoản 8 Điều 8 Luật GTĐB quy định: Điều khiển xe môtô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50miligam/100 mililít máu), Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với xe môtô BKS 29S1-550.XX đăng ký mang tên Ngô Nguyện Th (Địa chỉ: Hà Lâm, Thụy Lâm, Đông Anh, Hà Nội. Kết quả tra cứu, xe môtô BKS 29S1-550.XX không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đối chiếu hồ sơ khai báo đăng ký xe, tờ khai mang tên Ngô Nguyện Th. Ngày 07/5/2020, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu: Trao trả xe môtô BKS 29S1-550.XX và đăng ký xe cho bị cáo Ngô Nguyện Th là có căn cứ.

Đối với Xe môtô BKS 29.9XX. VR, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, đăng ký mang tên Nguyễn Thị D (Sinh năm: 1942; nơi cư trú: Khối Vân, thị trấn Yên Viên). Xác minh chủ xe trong đăng ký, Công an thị trấn Yên Viên, Gia Lâm , Hà Nội cho biết chưa phát hiện người có tên trên sinh sống tại địa chỉ nêu trên. Kết quả tra cứu, xe môtô BKS 29.9XX. VR không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 07/5/2020, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trao tra xe môtô BKS 29.9XX. VR và đăng ký xe cho gia đình nạn nhân Bùi Xuân H là có căn cứ.

Phần dân sự: Bị cáo Ngô Nguyện Th tích cực bồi thường cho gia đình bị hại Bùi Xuân H 80.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngô Nguyện Th .

Tại cáo trạng số 178/CT-VKSHĐA ngày10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố Ngô Nguyện Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 184/2020/HSST ngày 16/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội quyết định:

Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Nguyện Th 32 tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/12/2020 bị cáo Ngô Nguyện Th kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Ngô Nguyện Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm nhân thân chưa tiền án tiền sự, khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Về hoàn cảnh gia đình: bố đẻ đã chết hiện nay bị cáo là con duy nhất đang chăm sóc mẹ già ốm đau, bị cáo xin được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội khắc phục các khó khăn nêu trên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu bản ý kiến, quan điểm của Viện kiểm sát đối với kháng cáo của bị cáo như sau: Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những lý do kháng cáo mà bị cáo đưa ra tại phiên toà phúc thẩm đều đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị cáo: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo phù hợp với các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét lời khai của Ngô Nguyện Th tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, Kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 05/01/2020 Ngô Nguyện Th, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29S1-550.XX trên đường Thuỵ Lâm chiều từ Xuân Nôn đi Thuỵ Lâm (chưa có giấy phép lái xe hợp lệ) khi đến địa phận Đường Yên, Xuân Nôn, Đông Anh. Do vượt ô tô con đi cùng chiều phía trước, Ngô Nguyện Th đã tăng tốc điều khiển xe sang làn đường phía bên trái, nhưng do không chú ý quan sát đã đâm vào xe mô tô mang biển kiểm sát 29-999 –VR dung tích 49cm3 do ông Bùi Xuân H điều khiển theo hướng ngược lại, dẫn đến hậu quả ông Bùi Xuân H tử vong. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Toà án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

* Xét kháng cáo của bị cáo:

Toà án cấp sơ thẩm xác định nguyên nhân gây tai nạn là do bị cáo điều khiển xe máy không đúng phần đường quy định và xác định người bị hại cũng có lỗi do điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng nồng độ cồn vượt quá mức cho phép. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và quyết định hình phạt 32 tháng tù là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tai nạn giao thông xảy ra do lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nhưng phía bị hại cũng có 01 phần lỗi là tham gia giao thông trong tình trạng nồng độ cồn trong cơ thể vượt mức cho phép điều đó sẽ làm mất đi sự tỉnh táo cần thiết trong khi điều khiển các phương tiện giao thông. Nay các bên đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và tự nguyện hoà giải, gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là lý do cơ bản góp phần giảm bớt tác hại của tội phạm. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt bố đẻ bị cáo chết do tai nạn lao động, chị gái bị chết do tai nạn giao thông năm 2007, (tai nạn xảy ra bị cáo cũng bị thương điều trị 02 tháng), hiện mẹ bị cáo hiện đang ốm đau mất khả năng lao động bị cáo là lao động chính duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng. Từ sự phân tích trên Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc cho bị cáo được cải tạo tại xã hội là phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo cơ hội cho bị cáo khắc phục những khó khăn của gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyện Th, Sửa bản án hình sự số 184/2020/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

Tuyên bố bị cáo Ngô Nguyện Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Ngô Nguyện Th: 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Ngô Nguyện Th cho Uỷ ban nhân dân xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ