- Tranh chấp gì? án hình sự — "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? X phạt các bị cáo Võ Văn C 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2023.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 525/2024/HS-ST Ngày: 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Thi Thị Tuyết Nhung
Ông Bùi Quang Việt
Bà Đặng Thị Huệ Tú
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Thạch – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh mở phiên tòa t sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 809/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra t
số: 5710/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1) Võ Văn C; Sinh ngày 01/01/1996 tại Đồng Tháp; Thường trú: số 224 ấp S, ã T, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn Đ và Trần Thị B B; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại quyết định số 663/QĐ-TA ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Ch Minh áp dụng biện pháp lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh (chấp hành ong ngày 08/02/2021).
Bị bắt, tạm giam ngày 22/5/2023- Có mặt.
2) Trƣơng Văn Th; Sinh ngày 05/3/1997 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Thường trú: Số 10 ấp AT, ã B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: A26/30B4 tổ 51, ấp A, xã B, huyện BC, Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Giới t nh: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Trương Văn T1 và Trương Thị C m T2; Bị cáo sống chung như vợ, chồng với Đinh Thị Thanh T3 và 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam ngày 22/5/2023- Có mặt. Người bào chữa: 1) Ông Nguyễn Trung Chánh là luật sư của C ng ty luật TNHH MTV Chánh Thiện thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Ch Minh bào chữa cho bị cáo Võ Văn C – Có mặt. 2) Ông Trịnh Minh Kiến Quốc là luật sư của C ng ty luật TNHH INFINITY Việt Nam thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Ch Minh bào chữa cho bị cáo Trương Văn Th – Có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị Thanh T3, sinh năm 1988; Trú tại: 43/517 DT, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Ch Minh; Chỗ ở: A30/26 Quốc lộ A, xã B, huyện BC, Thành phố Hồ Ch Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, Công an huyện BC phát hiện, bắt quả tang Võ Văn C và Trương Văn Th về hành vi cất giấu ma túy tại quầy lễ tân của khách sạn Tường Vy, địa chỉ số C4/18B, Khu phố B, thị trấn TT, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đ ch bán lại cho người khác để hưởng lợi. Kiểm tra thu giữ 01 túi nylon màu đỏ đựng 01 hộp giấy ghi chữ “Bồ kết sả chanh Hoa Bưởi”, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 109,20 gam, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 5625/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng thời, thu giữ của C và Th 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô biển số 59L2-901.13. Tiến hành khám xét kh n cấp chỗ ở của Trương Văn Th tại nhà không số kế nhà số A26/30B4, Tổ 51, Ấp A, xã B, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy. Quá trình điều tra, Võ Văn C và Trương Văn Th khai nhận: C và Th đều s dụng ma túy nên quen biết nhau. Tháng 04/2023, C đến ở chung với Th tại nhà không số kế nhà số A26/30B4, Tổ 51, Ấp A, xã B, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh. Tối ngày 24/5/2023, người bạn tên Bi (không rõ lai lịch) s dụng tài khoản Zalo tên “Lubi” gọi cho C đặt mua 110 gam ma túy đá, C báo giá 38.000.000 đồng và hẹn ngày 25/5/2023 sẽ giao ma túy tại phòng số 6 khách sạn Tường Vy, địa chỉ số C4/18B, Khu phố B, thị trấn TT, huyện BC, Thành phố Hồ Ch Minh. Trưa ngày 25/5/2023, C nói cho Th biết sự việc và nhờ Th mua giúp 110 gam ma túy đá rồi cùng nhau đem đi bán cho Bi, tiền lời bán ma túy sẽ chia đ i. Th đồng ý, gọi điện thoại cho H1 (không rõ lai lịch) đặt mua 110 gam ma túy đá giá 35.000.000 đồng và thỏa thuận với H1 sau khi bán xong ma túy sẽ trả tiền. Khoảng 30 phút sau, H1 đến trước nhà giao cho Th 01 túi nylon màu đỏ bên trong có 01 hộp giấy in chữ “Bồ Kết Sả Chanh Hoa Bưởi”, bên trong có 02 gói nylon chứa ma túy đá. Th mang vào nhà, treo túy ma túy lên xe mô tô biển số 59L2-901.13, C điều khiển xe mô tô này chở Th đến khách sạn Tường Vy để giao ma túy cho Bi theo thỏa thuận trước đó. Khi đến nơi, Th cầm túi nylon chứa ma túy g i tại quầy lễ tân của khách sạn, rồi cùng C đi đến trước phòng số 06 của khách sạn đứng chờ Bi thì bị Cơ quan C ng an yêu cầu kiểm tra, C và Th tự nguyện chỉ chỗ cất giấu ma túy tại quầy lễ tân cho Công an thu giữ toàn bộ số ma túy trên
Tại bản Cáo trạng số: 387/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 02 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Ch Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th về tội: “Mua bán trái ph p chất ma túy”. Đồng thời đề nghị Hội đồng t :
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, s a đổi bổ sung năm 2017,
X phạt các bị cáo Võ Văn C 20 năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng, sung Ngân sách nhà nước.
X phạt các bị cáo Trương Văn Th 20 năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng, sung Ngân sách nhà nước.
Đồng thời đề nghị lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.
Luật sư Nguyễn Trung Chánh bào chữa cho các bị cáo Võ Văn C, trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh và điều luật đã truy tố đối với bị cáo C và chỉ trình bày các tình tiết giảm nhẹ như thời điểm Cơ quan C ng an kiểm tra hành ch nh các bị cáo C và Th đã tự nguyện khai nhận hành vi cất giấu ma túy tại quầy lễ tân khách sạn Tường Vy nhằm bán cho đối tượng Bi và khối lượng ma túy này đã bị cơ quan điều tra thu giữ toàn bộ, chưa phát tán ra ngoài ã hội, quá trình điều tra bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội nên luật sư đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, giảm nhẹ hơn mức hình phạt cho bị cáo, so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về hình phạt bổ sung, luật sư đề nghị áp dụng mức phạt tiền nhẹ nhất cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. Luật sư Trịnh Minh Kiến Quốc bào chữa cho bị cáo Trương Văn Th trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh và điều luật đã truy tố đối với bị cáo Th và đồng ý với quan điểm của luật sư đồng nghiệp đề nghị Hội đồng t
em t tình tiết các bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi tàng trữ trái ph p chất ma túy, cũng như khối lượng ma túy đã bị thu giữ toàn bộ nên hành vi mua bán với đối tượng Bi chưa thực hiện được, các bị cáo chưa hưởng lợi bất ch nh. Trong vụ án này bị cáo Th là người giúp sức cho bị cáo C, đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Từ đó luật sư đề nghị Hội đồng t áp dụng điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 phạt bị cáo dưới mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp quan điểm bào chữa của luật sư: Do các luật sư thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố nên Kiểm sát viên không tranh luận. Về các tình tiết giảm nhẹ mà các luật sư trình bày cho các bị cáo, đề nghị Hội đồng t cân nhắc, em t áp dụng khi lượng hình theo quy định pháp luật. Các bên còn đưa ra một số quan điểm đối đáp, tranh tụng nhưng tất cả đều bảo lưu quan điểm như đã trình bày. Lời nói sau cùng: Các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan Cảnh sát Điều tra - C ng an Thành phố Hồ Ch Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, người làm chứng đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, kh ng bị p cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về nội dung, Hội đồng t đánh giá như sau: Qua th m tra t hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được ác định phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật; phù hợp với nội dung của Kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng t có đủ cơ sở kết luận:
Các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th đã thực hiện hành vi cất giấu 109,20gam Methamphetamine tại khu vực quầy lễ tân khách sạn Tường Vy (địa chỉ C4/18B, Khu phố B, thị trấn TT, huyện BC, Thành phố Hồ Ch Minh) để bán lại cho đối tượng “Bi” (kh ng rõ lai lịch) vào ngày 25/5/2023, nhằm hưởng lợi bất ch nh thì bị Cơ quan C ng an huyện BC phát hiện, bắt quả tang. Nguồn ma túy trên, các bị cáo C và Th khai nhận mua của đối tượng H1 qua số điện thoại 0903711508.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th đã phạm vào tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 như Bản cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hội đồng t
t thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Võ Văn C, Trương Văn Th là đặc biệt nguy hiểm cho ã hội, đã âm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, âm phạm trật tự, trị an và an ninh ã hội, âm phạm đến ch nh sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống ã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược độc hại, đã, đang và sẽ hủy hoại cả về thể chất lẫn tinh thần của những người nghiện hút, do đó nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi sản uất, tàng trữ, mua bán và vận chuyển trái ph p chất ma túy và quy định trừng phạt nghiêm khắc với những ai cố tình vi phạm. Bị cáo là người trên 18 tuổi và kh ng thuộc trường hợp kh ng có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì tư lợi mà thực hiện hành vi cất giữ nhằm mục đ ch mua bán trái phép 109,20gam ma túy, loại Methamphetamine, t cần áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017 để phạt bị cáo một mức án tương ứng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng t cũng cân nhắc, em t đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và nhân thân của bị cáo.
Về tình chất, vai trò đồng phạm: Hội đồng t
t thấy đây là vụ án đồng phạm có t nh chất giản đơn, các bị cáo cùng là người thực hành. Trong đó, bị cáo C là người khởi ướng việc mua ma túy để bán cho đối tượng Bi và bị cáo Th là người liên hệ với H1 để mua ma túy và chở C đến khách sạn Tường Vy để bán ma túy cho Bi nên các bị cáo có vai trò ngang nhau khi cùng thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, t bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. Đối với đề nghị của các luật sư cho rằng cho thời điểm Cơ quan C ng an kiểm tra các bị cáo đã chủ động khai nhận hành vi mua bán ma túy với đối tượng “Bi” và chỉ điểm địa điểm cất giấu ma túy tại quầy lễ tân để áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng t
t thấy, do các bị cáo có biểu hiện nghi vấn trước phòng số 6, khách sạn Tường Vy nên Cơ quan C ng an mới thực hiện việc kiểm tra các bị cáo. Từ đó, các bị cáo mới khai nhận hành vi cất giấu, mua bán ma túy với đối tượng “Bi” mà kh ng phải các bị cáo chủ động liên hệ cơ quan chức năng khai nhận hành vi phạm tội khi chưa bị phát giác nên kh ng có cơ sở áp dụng tình tiết “tự thú” đối với các bị cáo. Mặt khác, tình tiết các bị cáo khai nhận thành kh n, ăn năn hối cải đã được Hội đồng t , xem xét áp dụng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. [7] Về nhân thân: Bị cáo C từng bị áp dụng biện pháp lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2019 nên bị coi là người có nhân thân ấu Riêng bị cáo Trương Văn Th chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu nên được em là người có nhân thân tốt khi quyết định hình phạt theo Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. [8] Căn cứ t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, Hội đồng t xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống ã hội một thời gian dài để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. [9] Ngoài hình phạt ch nh cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. [10]Về lý vật chứng thu giữ trong vụ án: [10.1] Đối với 01 gói niêm phong ghi chữ vụ 1194 (5625), (có chữ ký ghi tên của Giám định viên Trịnh H1 Thắng (PC09), Cán bộ C ng an huyện BC Mai Thái Bình), bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 túi nylon màu đỏ; 01 hộp giấy có in chữ “Bồ kết sả chanh Hoa Bưởi”, t cần tịch thu tiêu hủy. [10.2] Đối với 01 điện thoại di động trên mặt màn hình có in chữ Redmi gắn 01 sim tạm giữ của Võ Văn C (kh ng kiểm tra đời máy, Imei do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 điện thoại di động mặt lưng có in chữ Black Shark màu đen, bị bể màn hình, camera, kh ng lên màn hình gắn 02 sim tạm giữ của Trương Văn Th (kh ng kiểm tra đời máy, Imei do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), là phương tiện các bị cáo C, Th s dụng để thực hiện hành vi phạm tội, t cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. [10.3] Đối với 01 e hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại Sonic, dung tích xilanh 149, BS: 59L2-901.13, SK: MH1KB1110KK190111; SM: KB11E1187902 (kh ng gương, dàn nhựa bể, e cũ rỉ s t, máy móc bên trong kh ng kiểm tra). Qua ác minh, e trên do Đinh Thị Thanh T3 đứng tên đăng ký sở hữu từ khoảng tháng 6/2019. Đến khoảng tháng 05/2023, T3 cho chồng là Trương Văn Th mượn e trên để Th đi học nghề. Ngày 25/5/2023, Th s dụng e trên chở C đến khách sạn Tường Vy để mua bán ma túy với “Bi” thì bị Cơ quan C ng an bắt, thu giữ e. Tại cơ quan điều tra, bà T3 có đơn in nhận tại e trên. Tại phiên tòa, bị cáo Th khai thống nhất với bà T3 về việc bà T3 kh ng biết và kh ng liên quan đến hành vi mua bán trái ph p chất ma túy của Th và C. Xét, e trên thuộc sở hữu hợp pháp của bà Đinh Thị Thanh T3 và bản thân bà T3 kh ng có lỗi trong việc để các bị cáo s dụng e trên làm phương tiện di chuyển đi mua bán ma túy nên cần trả lại e gắn máy nêu trên cho bà T3.
Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng H1 là người bán ma túy cho Th và C. Qua điều tra, ác minh ác định H1 tên thật là Võ Tuấn C1, sinh năm 1988, nơi thường trú số 1/46 TTV, Phường E, Quận G, Thành phố Hồ Ch Minh nhưng hiện C1 đã bỏ đi khỏi địa phương và kh ng rõ đi đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy tìm người số 3968 ngày 30/3/2024, khi nào tìm được C1 sẽ điều tra, làm rõ và lý sau.
Đối với đối tượng Bi là người liên hệ với C để mua ma túy tại khách sạn Tường Vy. Kết quả kiểm tra sổ nhật ký lưu trú tại khách sạn Tường Vy và kiểm tra phòng số 6, khách sạn Tường Vy kh ng phát hiện đối tượng thuê phòng. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo C, Th kh ng khai rõ nhân thân, lai lịch của Bi nên kh ng có cơ sở ác minh, điều tra, làm rõ.
Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ th m theo qui định tại Điều 135, 136 Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị có có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017;
X phạt các bị cáo Võ Văn C 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng, sung Ngân sách nhà nước.
X phạt các bị cáo Trương Văn Th 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng, sung Ngân sách nhà nước.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi chữ vụ 1194 (5625), (có chữ ký ghi tên của Giám định viên Trịnh H1 Thắng (PC09), Cán bộ C ng an huyện BC Mai Thái Bình), bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 túi nylon màu đỏ; 01 hộp giấy có in chữ “Bồ kết sả chanh Hoa Bưởi”.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động trên mặt màn hình có in chữ Redmi gắn 01 sim tạm giữ của Võ Văn C (kh ng kiểm tra đời máy, Imei do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 điện thoại di động mặt lưng có in chữ Black Shark màu đen, bị bể màn hình, camera, kh ng lên màn hình gắn 02 sim tạm giữ của Trương Văn Th (kh ng kiểm tra đời máy, Imei do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong). Trả lại cho bà Đinh Thị Thanh T3: 01 e hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại Sonic, dung tích xilanh 149, BS: 59L2-901.13, SK: MH1KB1110KK190111; SM: KB11E1187902 (kh ng gương, dàn nhựa bể, e cũ rỉ s t, máy móc bên trong kh ng kiểm tra) (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/424 ngày 08/7/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Ch Minh). Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án ph hình sự sơ th m. Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo in t phúc th m. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo in t phúc th m trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS TP. HCM; (1) - Sở tư pháp; (1) - Cơ quan điều tra; (1) - Trại tạm giam; (4) - Bị cáo; (2) - Đương sự; (1) - THA HS; (1) - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (24) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hƣơng Giang |