vanban.org

Bản án 525/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T phạm tội" tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 525 /2022/HSST
Ngày 12/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

2. Bà Trần Thị Lan Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại Hội T xét xử Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 552/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 461/2022/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 11năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 10/01/1988. ĐKHKTT:

Tổ 10, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình Đ; Con bà Vũ Thị L; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại Bản án số 71/2019/HSST ngày 11/3/2019, của Tòa án

nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 13/6/2020. Đã chấp hành xong án phí ngày 26/6/2019.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái

Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa

* Người chứng kiến: Ông Mai Văn V, sinh năm 1961. Vắng mặt

Trú tại: Tổ 04, phường QT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, tổ công tác Công an phường Quan

Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực đèn tín hiệu giao thông thuộc tổ 8, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, nam thanh niên trên khai tên là Nguyễn Xuân T. Quá trình kiểm tra, T tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải của T 02 gói giấy bạc màu vàng giao nộp cho tổ công tác. Kiểm tra hai gói giấy thu được thấy bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng, 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng hồng. T khai là ma túy của T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân T và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên

tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 cókhối lượng 0,163 gam (niêm phong ký hiệu T gửi giám định). Số chất bột màu trắng hồng cùng đựng trong bì niêm phong ký hiệu A1 cókhối lượng 0,093 gam (niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 1332/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của

Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì ký hiệu T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,163 gam. Chất bột màu trắng hồng trong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine và Methamphetamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,093 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút,

ngày 23/8/2022, T bắt xe ôm đi từ nhà đến khu vực Cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cất giấu số ma túy trên trong lòng bàn tay phải của T rồi bắt xe đi lên khu vực phường Quan Triều để tìm nơi sử dụng. Khi T vừa xuống xe đi bộ thì bị Công an phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vu ̣ án: 03 (ba) bì niêm phong ký hiệu T, T1, T2 đang được

lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 562/CT-VKSNDTPTN, ngày 18/11/2022 Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, thừa

nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38

BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu

hủy 03 bì niêm phong ký hiệu T, T1, T2.

+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị

cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 12 giờ 45 phút ngày 23/8/2022, tại tổ 08, phường Quan Triều, thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ 0,163 gam chất ma túy, loại Heroine và 0,093 gam chất ma túy, loại Heroine và Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn

Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các

chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu đã đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm gương mà vẫn tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không

có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Vật chứng vụ án: Đối với 03 bì niêm phong ký hiệu T, T1, T2 bên

trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Xuân T khai mua của người đàn ông

không rõ lai lịch địa chỉ ở khu vực Cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1

Điều 51 BLHS, xử phạt Nguyễn Xuân T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu T, T1, T2.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 165 ngày

30/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho

biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ