- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 523/2021/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 5 năm 2021 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
- Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Quản
2/ Bà Lâm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 77/2021/TLST-HN, Ngày 15/01/2021 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 200/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc L, sinh năm: 1959
Trú tại: A, đường TX , tổ 48, khu phố 4, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị B , sinh năm: 1961
Trú tại: A, đường TX , tổ 48, khu phố 4, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Ngọc L trình bày:
Tôi và bà Ngô Thị B đã tổ chức đám cưới và chung số như vợ chồng từ năm 1980. Đến năm 2002 mới đi đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 218 do Ủy ban nhân dân phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2002. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn. Tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa, chúng tôi đã ly thân hơn 4 năm. Nay, tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với bà Ngô Thị B
- Về con chung: có 03 con chung, Lê Quốc P, sinh năm 1981; Lê Quốc T, sinh năm 1984; Lê Quốc D, sinh năm 1993. Các con đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị B có bản tự khai: đúng là bà và ông Lê Ngọc L sống chung từ năm 1980 sau đó mới đi đăng ký kết hôn vào năm 2002. Mâu thuẫn bắt đầu từ năm 2017 do bất đồng quan điểm sống, hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, với yêu cầu xin ly hôn của ông Luông, bà B đề nghị cho thêm thời gian để giải quyết việc gia đình rồi mới ly hôn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ kiện ly hôn, bà Lê Thị B là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào các lời khai của đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ông Lê Ngọc L và bà Ngô Thị B chung sống như vợ chồng từ năm 1980, sau đó đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 218 do Ủy ban nhân dân phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2002. Có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân ông Lê Ngọc L và bà Ngô Thị B là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Ngọc L và bà Lê Thị B tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh. Tại kết quả xác minh của Hội phụ nữ phường Thạnh Xuân xác định mâu thuẫn: “qua xác minh tình trạng hôn nhân của ông Lê Ngọc L và bà Ngô Thị B được biết giữa hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể hòa giải được, đã ly thân cách đây hơn 4 năm. Nhận thấy mối quan hệ hôn nhân không thể hòa giải được”
Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên trong nhiều tháng để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả. Bà B không đề ra kế hoạch có tính khả thi để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai vợ chồng sống ly thân một thời gian dài, trên 4 năm. Như vậy những chứng cứ trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L và bà B là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó xét thấy yêu cầu của ông Lê Ngọc L là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về con chung: có 03 con chung, Lê Quốc Ph, sinh năm 1981; Lê Quốc T, sinh năm 1984; Lê Quốc D, sinh năm 1993. Các con đã trưởng thành
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Lê Ngọc L phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 179; Điều 199; Điều 200; Điều 208; Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Ngọc L được ly hôn đối với bà Ngô Thị B .
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 218 do Ủy ban nhân dân phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2002 cấp cho ông Lê Ngọc L và bà Ngô Thị B không còn giá trị.
2/ Về con chung: có 03 con chung, Lê Quốc P, sinh năm 1981; Lê Quốc T, sinh năm 1984; Lê Quốc D, sinh năm 1993. Các con đã trưởng thành.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Lê Ngọc L phải chịu. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Lê Ngọc L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2019/0105953 ngày 15/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lê Ngọc L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM -VKSND Quận 12; - UBND P. Thạnh Xuân; - Chi cục THA Dân sự Quận 12; - Các đương sự; - Lưu VP, HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |