- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình K - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Phan Đình K và giữ nguyên ản án s thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 520/2022/HS-PT Ngày: 14-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Lê Phước Thanh
Các thẩm phán:
ông Nguyễn Cường
ông Trần Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 12 năm 2022 Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 457/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, đối với ị cáo Phan Đình K bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 45/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Đình K, sinh năm: 1993 tại Bình Định; n i cư trú: tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Phan Văn T, sinh năm 1968 và à Nguyễn Thị P, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ K – Luật sư Văn phòng luật sư B, Đoàn luật sư tỉnh Bình Định- Có mặt.
Địa chỉ: tỉnh Bình Định.
- Bị hại:
Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q.
Địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị A – Giám đốc- Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q do Đỗ Thanh H làm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Ngày 01/01/2017, Phan Đình K được Công ty ký kết hợp đồng lao động và được phân công nhiệm vụ: N viên tiếp thị và quản lý thị trường tại các địa àn thuộc huyện P, huyện H, huyện H, chào án vật liệu xây dựng, xi măng của Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q làm đại lý phân phối cho Công ty Cổ phần Xi măng Đ; đồng thời theo dõi việc giao nhận hàng của Công ty cho các khách hàng, thu tiền án hàng từ các cửa hàng nộp lại cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q.
Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q ký kết hợp đồng kinh tế với 27 cửa hàng trên địa àn huyện H, huyện H, huyện P, tỉnh Bình Định về việc mua án xi măng với các cửa hàng với quy trình như sau:
Khi các khách hàng đồng ý đặt mua xi măng của Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q thì Phan Đình K tổng hợp áo về cho Công ty iết số lượng hàng, iển số xe ô tô nhận hàng. Trên c sở đó, Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q sẽ đăng nhập thành viên vào trang we án hàng của Công ty Cổ phần Xi măng Đ để đặt hàng như: Số lượng, chủng loại xi măng, ngày giao hàng, iển số xe nhận hàng. Hệ thống của Công ty Cổ phần Xi măng Đ sẽ xử lý đ n hàng và cung cấp cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q 01 “mã nhận hàng”. Công ty Cổ phần Dịch vụ thư ng mại Q cung cấp mã nhận hàng cho K để K áo cho tài xế xe iết đến kho của Công ty Cổ phần Xi măng Đ nhận hàng về giao cho các cửa hàng mua án vật liệu xây dựng. Công ty Cổ phần Dịch vụ thư ng mại Q sẽ chuyển khoản thanh toán tiền cho Công ty Cổ phần xi măng Đ đối với số xi măng theo đ n hàng đã đặt.
Để theo dõi việc án hàng của Phan Đình K; Công ty Cổ phần Dịch vụ thư ng mại Q có giao cho Phan Đình K 02 quyển “Sổ công nợ” trong đó, có 01 sổ giao cho khách hàng, 01 sổ do K giữ để ghi chép, theo dõi việc mua án, thanh toán tiền hàng giữa các cửa hàng với Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q gồm các cột mục như: ngày tháng, số xe nhận hàng, số lượng hàng, đ n giá, thành tiền, số tiền đã trả (thanh toán), nợ cuối kỳ (theo lũy kế). Trên c sở số lượng xi măng đã giao cho các cửa hàng, K sẽ ghi vào 02 sổ công nợ này để cùng theo dõi, đối chiếu với khách hàng. Khi thanh toán, khách hàng sẽ chuyển khoản vào tài khoản của Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q hoặc giao tiền mặt trực tiếp cho K để K nộp về cho Công ty. Theo đó, có kế toán của Công ty là Nguyễn Thị Bích Vy mở sổ theo dõi công nợ đối với từng khách hàng, cũng ghi nhận các nội dung: ngày tháng, số xe nhận hàng, số lượng hàng, đ n giá, thành tiền, số tiền khách hàng đã thanh toán (tiền mặt hoặc chuyển khoản), nợ cuối kỳ theo từng tháng để theo dõi. Đồng thời có mở sổ theo dõi tiền mặt, tiền gửi vào tài khoản của Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q để theo dõi việc các nhân viên thị trường thu tiền của các cửa hàng nộp về cho Công ty. Đến cuối tháng, kế toán sẽ lập “Biên bản đối chiếu công nợ” với khách hàng ghi rõ các nội dung: Số dư đầu kỳ, phát sinh trong tháng, số tiền khách hàng đã thanh toán, số tiền còn nợ cuối tháng và giao cho nhân viên thị trường để kiểm tra, đối chiếu, nếu phù hợp thì ký xác nhận rồi gửi về Công ty để theo dõi. Nếu có sai lệch thì kịp thời kiểm tra, xử lý, điều chỉnh.
Lợi dụng nhiệm vụ được giao và sự tin tưởng của các cửa hàng do K quản lý và thu tiền mua án vật liệu xây dựng K đã chiếm đoạt tiền với cách thức khi các cửa hàng thanh toán tiền mua án vật liệu xây dựng cho K thì K vẫn ghi đầy đủ việc nhận tiền và sổ công nợ do khách hàng giữ để theo dõi. Trên sổ công nợ của K thì K không ghi việc nhận tiền hàng của khách hàng mà áo về cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q về việc khách hàng chưa thanh toán tiền.
Với cách thức nêu trên, từ tháng 03/2017 đến tháng 02 năm 2018, Phan Đình K đã thu tiền của các cửa hàng do K quản lý trên địa àn huyện H, P, huyện H nhưng không giao nộp cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q mà chiếm đoạt với số tiền 1.666.492.000, trong đó:
+ Phan Đình K nhận tiền từ các cửa hàng nhưng không giao nộp về công ty số tiền 1.574.759.000đ.
+ Phan Đình K đã án vật liệu xây dựng cho các cửa hàng, nhưng K không ghi vào sổ công nợ, gây thiệt hại cho Công ty Cổ phần Dịch vụ thư ng mại Q số tiền 86.578.000 đồng.
+ Các khoản tiền do K tự ý hỗ trợ vận chuyển, chiết khấu án hàng trừ vào công nợ không được Công ty Cổ phần Dịch vụ thư ng mại Q đồng ý, ghi sai giá trị hàng hóa, ghi giá án thấp h n giá của Công ty số tiền 5.155.000 đồng.
Cụ thể theo từng cửa hàng mua bán vật liệu xây dựng, như sau:
1. Cửa hàng vật liệu xây dựng H do Đỗ Thạch H làm chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho Phan Đình K nhận với số tiền 50.000.000đ và ị K chiếm đoạt.
2. Cửa hàng vật liệu xây dựng P do Bùi Văn P chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho Phan Đình K nhận số tiền 278.677.000đ, K chỉ nộp cho Công ty số tiền 192.000.000đ, còn 86.677.000đ K chiếm đoạt.
3. Cửa hàng vật liệu xây dựng D do Nguyễn H T chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho Phan Đình K nhận số tiền 53.479.000đ, nhưng K chỉ giao nộp cho Công ty số tiền 24.000.000đ, còn lại 29.497.000đ K chiếm đoạt.
4. Cửa hàng vật liệu xây dựng A do Vư ng A chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho Phan Đình K nhận với số tiền 261.044.000đ nhưng K chỉ giao nộp lại cho Công ty số tiền 220.000.000đ, còn lại số tiền 41.044.000đ chiếm đoạt.
5. Cửa hàng vật liệu xây dựng T do Võ Việt B chủ cửa hàng nhưng giao lại cho Phan Thị M quản lý mua án đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho Phan Đình K nhận với số tiền 80.954.000đ, nhưng K chỉ giao nộp cho Công ty với số tiền 60.000.000đ, K ghi sai tăng công nợ 45.500đ. Như vậy, K đã chiếm đoạt số tiền 21.000.000đ.
6. Công ty TNHH Xây dựng Tổng hợp Hoàng T do Phan Hoàng T làm giám đốc, đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho K nhận với số tiền 65.707.000đ. K giao nộp lại cho Công ty số tiền 30.000.000đ, còn 35.700.000đ K giữ lại và ghi sai công nợ là 7.000đ. Như vậy, K đã chiếm đoạt 35.707.000đ.
7. Công ty TNHH Đẹp T do Trần Thị T làm giám đốc đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho Phan Đình K nhận với số tiền 148.950.000đ. K nộp lại cho Công ty số tiền 100.000.000đ, còn 48.950.000đ, K giữ lại và ghi sai công nợ là 1.050.000đ. Như vậy, K đã chiếm đoạt 50.000.000đ.
8. Cửa hàng vật liệu xây dựng Tư N do Nguyễn Văn N đứng tên chủ doanh nghiệp nhưng giao cho Hoàng Thị Tư quản lý mua án đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho Phan Đình K nhận số tiền 214.594.000đ. Sau khi nhận tiền xong, Phan Đình K giao nộp lại cho Công ty số tiền 121.000.000đ, còn số tiền 93.594.000đ K chiếm đoạt. Trong đó, K án hàng không ghi sổ nợ và tự chiết khấu với số tiền 23.400.000đ, gây thiệt hại cho Công ty.
9. Cửa hàng vật liệu xây dựng S do Trần Đức S đứng tên chủ cửa hàng nhưng giao cho con Trần Đức Lâm kinh doanh mua án, đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và giao cho Phan Đình K nhận số tiền 12.980.000đ, nhưng K ghi sai công nợ 20.000đ gây thiệt hại cho Công ty số tiền 13.000.000đ. Như vậy, K đã chiếm đoạt 13.000.000đ.
10. Cửa hàng vật liệu xây dựng Phú V do Nguyễn Thị Diên V chủ cửa hàng mua án vật liệu xây dựng, đã trả tiền mua vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K số tiền 22.990.000đ, nhưng K nộp lại cho Công ty 5.000.000đ, còn 17.990.000đ, K không nộp và ghi sai công nợ là 10.000đ. Như vậy, Phan Đình K đã chiếm đoạt 18.000.000đ.
11. Cửa hàng vật liệu xây dựng N do Lê Thị L chủ cửa hàng, đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 72.750.000đ. K nộp lại cho Công ty 20.000.000đ, còn giữ lại 52.750.000đ chiếm đoạt, trong đó K ghi sai đ n giá và tự ý hỗ trợ vận chuyển 2.750.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
12. Công ty TNHH Xây dựng và Thư ng mại T Thảo do Nguyễn Văn T làm giám đốc đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K nhận là 67.730.000đ, K giao nộp cho Công ty 20.000.000đ, còn 47.730.000đ K chiếm đoạt và việc ghi sai đ n giá làm tăng công nợ khách hàng số tiền 280.000đ. Như vậy, Phan Đình K đã chiếm đoạt của Công ty 48.000.000đ.
13. Cửa hàng vật liệu xây dựng H do Lê Quang H chủ doanh nghiệp đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 117.901.000đ, K giao nộp cho Công ty 44.000.000đ, còn giữ lại 73.901.000đ chiếm đoạt. Trong đó, Phan Đình K án hàng không ghi sổ nợ là 3.468.000đ.
14. Cửa hàng vật liệu xây dựng H Phát do Phan Xuân H - chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 95.000.000đ, K chỉ nộp cho Công ty 75.000.000đ, còn 20.000.000đ chiếm đoạt.
15. Cửa hàng vật liệu xây dựng V Thường do Huỳnh C chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận số tiền 341.060.000đ, K chỉ nộp cho Công ty 70.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 271.060.000đ. Trong đó, K tự ý vận chuyển 1.060.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
16. Cửa hàng vật liệu xây dựng A do Bùi Thiên Đ - chủ doanh nghiệp đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 98.810.000đ. K nộp lại cho Công ty 58.570.000đ, còn chiếm đoạt 40.240.000đ. Trong đó, K tự ý khuyến mãi cho khách hàng và ghi sai công nợ với số tiền 7.240.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
17. Cửa hàng vật liệu xây dựng L Lắm do Trần Thị L chủ doanh nghiệp đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 287.292.000đ, K nộp cho Công ty 244.000.000đ, còn chiếm đoạt 43.292.000đ. Trong đó, K ghi sai công nợ với số tiền 3.302.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
18. Cửa hàng vật liệu xây dựng M Thành do Đỗ Thị M - chủ doanh nghiệp đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận là 140.764.000đ, K nộp cho Công ty 60.000.000đ, còn chiếm đoạt 80.764.000đ. Trong đó, K ghi sai công nợ với số tiền 20.300.000 gây thiệt hại cho Công ty.
19. Cửa hàng vật liệu xây dựng Hiền L do Lý Thị L đứng tên chủ cửa hàng giao cho Trần Văn Hiền quản lý đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K nhận là 161.884.000đ, K nộp lại cho Công ty 116.000.000đ, còn chiếm đoạt 45.884.000đ. Trong đó, K ghi sai công nợ với số tiền 14.116.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
20. Cửa hàng vật liệu xây dựng P do Phan Thị T chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K nhận là 226.505.000đ, K nộp lại cho Công ty 153.000.000đ, còn chiếm đoạt 73.505.000đ.
21. Cửa hàng vật liệu xây dựng Năm C do Nguyễn Thị C chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K nhận là 207.615.000đ, K nộp lại cho Công ty 74.000.000đ, còn chiếm đoạt 133.615.000đ.
22. Cửa hàng vật liệu xây dựng L do Trần Văn L chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K nhận là 11.600.000đ, K không giao nộp cho Công ty mà chiếm đoạt.
23. Cửa hàng vật liệu xây dựng Thành H do Lê Thị H - chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K 35.300.000đ, K nộp cho Công ty 26.700.000đ, còn chiếm đoạt 8.600.000đ.
24. Cửa hàng vật liệu xây dựng T do Võ Trọng T chủ doanh nghiệp đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q giao cho K 231.965.500đ, K nộp cho Công ty 70.000.000đ, còn chiếm đoạt 161.965.500đ. Trong đó, K tự ý hỗ trợ vận chuyển, ghi sai công nợ với số tiền 1.759.500đ gây thiệt hại cho Công ty.
25. Công ty TNHH S do Lư ng Văn S làm giám đốc đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K nhận 90.000.000đ, K nộp cho Công ty 60.000.000đ, còn chiếm đoạt 30.000.000đ.
26. Cửa hàng vật liệu xây dựng Thuận H do Nguyễn Bá H chủ cửa hàng đã trả tiền vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K 93.240.000đ, K nộp cho Công ty số tiền 50.000.000đ, còn chiếm đoạt 43.240.000đ. Trong đó, K ghi sai làm giảm công nợ với số tiền 1.160.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
27. Cửa hàng vật liệu xây dựng H Tráng do Bùi Thị H đứng tên chủ c sở kinh doanh, nhưng giao cho Bùi Long Tráng quản lý, đã trả tiền vật liệu xây dựng giao cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q cho K 90.952.000đ, K không giao nộp cho Công ty mà chiếm đoạt. Trong đó, K ghi sai công nợ với số tiền 3.302.000đ gây thiệt hại cho Công ty.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 175 và điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Phan Đình K phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Phan Đình K 05 (năm) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Tổng hợp hình phạt uộc ị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị cáo ị ắt đi thi hành án.
Ngoài ra ản án còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12/9/2022 ị cáo Phan Đình K có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại tội tham ô tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo Phan Đình K giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như ản án s thẩm đã quy kết.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm:
Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Phan Đình K và giữ y hình phạt của ản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của ị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của ị cáo tại cấp s thẩm, phù hợp với lời khai của Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q và lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Đối với số tiền 170 triệu đồng, ị cáo K đã nộp sau khi Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q kiểm tra và phát hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có đủ c sở xác định:
Bị cáo Phan Đình K được Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q ký kết hợp đồng lao động và được phân công nhiệm vụ: N viên tiếp thị và quản lý thị trường tại các địa àn thuộc huyện P, huyện H, huyện H, chào án vật liệu xây dựng, xi măng; đồng thời theo dõi việc giao nhận hàng của Công ty cho các khách hàng, thu tiền án hàng từ các cửa hàng nộp lại cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phân công, ị cáo Phan Đình K đã có hành vi lợi dụng nhiệm vụ theo dõi, thu tiền nhưng khi nhận tiền của 27 cửa hàng mua án vật liệu xây dựng trên địa àn huyện H, huyện H, huyện P; K đã không giao nộp cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q mà chiếm đoạt số tiền 1.574.759.000đ sử dụng vào mục đích cá nhân. Trong đó:
- Phan Đình K chiếm đoạt từ ngày 02/3/2017 đến ngày 31/12/2017, với số tiền 919.945.000đ.
- Phan Đình K chiếm đoạt từ ngày 11/01/2018 đến ngày 15/02/2018, với số tiền 654.814.000đ.
Trong vụ án này, ị cáo Phan Đình K là nhân viên hợp đồng; ngoài nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, phát triển thị trường, tham gia vào việc giao nhận xi măng Đ cho khách hàng đặt mua thì K còn được giao việc đối chiếu, xác nhận công nợ hàng tháng với các khách hàng và nhận tiền mặt khách hàng thanh toán cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q (thông qua việc Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Q giao cho Phan Đình K 02 quyển “Sổ công nợ” trong đó, có 01 sổ giao cho khách hàng, 01 sổ do K giữ để ghi chép, theo dõi việc mua bán, thanh toán tiền hàng giữa các cửa hàng với Công ty; giao biên bản đối chiếu công nợ cho K trực tiếp đối chiếu với khách hàng; việc Công ty tổ chức đối chiếu với khách hàng sau khi nhận thấy công nợ của khách hàng do K quản lý cao bất thường...), đã cho thấy ị cáo Phan Đình K là người có trách nhiệm đối với tài sản là người được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản nên là người có chức vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng. Vì vậy, theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi chiếm đoạt của ị cáo Phan Đình K từ ngày 02/3/2017 đến ngày 31/12/2017, cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015); Kể từ ngày 01/01/2018 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành thì hành vi chiếm đoạt tư ng tự như trên của ị cáo Phan Đình K từ ngày 11/01/2018 đến ngày 15/02/2018, cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định kết án ị cáo Phan Đình K về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản” theo khoản 4 Điều 175 và điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Như đã nhận định nêu trên, ị cáo Phan Đình K là người có trách nhiệm giao nộp số tiền khách hàng đã trả cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q nhưng K không nộp cho Công ty là đã chiếm đoạt tài sản của Công ty. Mặt khác, 27 khách hàng ị lệch công nợ do K chiếm đoạt, đã được Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q công nhận và không yêu cầu khách hàng nộp tiền chênh lệch; Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q yêu cầu K phải ồi hoàn. Cho nên, Tòa án cấp s thẩm xác định Công ty Cổ phần Dịch vụ Thư ng mại Q là ị hại trong vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Hành vi phạm tội của ị cáo Phan Đình K mang tính chất đặc iệt nghiêm trọng; số tiền chiếm đoạt 1.574.759.000đ là rất lớn; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phư ng. Vì vậy, sau khi xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Có nhân thân tốt, thành khẩn khai áo; đã ồi thường toàn ộ số tiền thiệt hại 1.666.492.000đ, thể hiện sự ăn năn hối cải theo quy định tại điểm , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và ị hại có đ n xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tòa án cấp s thẩm quyết định xử phạt ị cáo Phan Đình K 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 07 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là phù hợp và có căn cứ. Tại tòa án cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới đáng kể để xem xét giảm nhẹ. Cho nên, không thể chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo.
Do không chấp nhận kháng cáo nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác còn lại của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Phan Đình K và giữ nguyên ản án s thẩm. Xử:
1/ Tuyên ố ị cáo Phan Đình K phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản”.
2/ Áp dụng khoản 4 Điều 175 và điểm a khoản 3 Điều 353; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Đình K 05 (năm) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Tổng hợp hình phạt uộc ị cáo Phan Đình K phải chấp hành chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị cáo ị ắt đi thi hành án.
3/ Bị cáo Phan Đình K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4./ Các phần quyết định khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Bình Định; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Bình Định; - C quan CSTHAHS - Công an tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Trại tạm giam công an tỉnh Bình Định; - Người tham gia tố tụng khác; - L HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Phước Thanh |