- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁNHNGĐST BÌNH- HÓA"
- Tòa quyết gì? Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNCHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bảnán số:520/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14/07/2022 V/v Tranh chấp Ly hôn Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường; Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Dương Thị Thu Vân 2.Ông Tạ Công Minh Thành Kiểm sát viên thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2022/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2022 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/06/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Đoàn Thị Kim B sinh năm 1980 (có mặt) Địa chỉ: 104/6 KP NH2, TVĐ, phường TK, TP TA, Long An 2. Bị đơn: Đỗ Tấn H, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: ấp TX, xã THĐ, CT, Tiền Giang | Ngày 14 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Đoàn Thị Kim B trình bày:
Chị B và anh H chung sống vợ chồng vào năm 2009,có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã Tân Hội Đông vào năm 2010. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay nên Chị B xin Tòa án giải quyết ly hôn với anh H. Về con chung có 01 con chung tên Đỗ Thị Mỹ P sinh năm 2010.Khi ly hôn Chị B đồng ý giao con chung là cháu P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, Chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, thực hiện vào ngày 14 tây hàng tháng, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về
nợ chung không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- 2 -
* Theo bản tự khai ngày 24/06/2022 anh Đỗ Tấn H trình bày:
Anh H đồng ý ly hôn với Chị B vì không còn tình cảm. Về con chung có 01 con
chung Đỗ Thị Mỹ P sinh năm 2010. Khi ly hôn anh đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, không yêu cầu Chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị B và anh H quen biết sau đó tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2009,
có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội Đông vào năm 2010. Anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo Chị B và anh H trình bày là do bất đồng quan điểm, sống không hợp đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Do thấy không còn tình cảm nên Chị B làm đơn xin ly hôn với anh H. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Chị B và anh H là hôn nhân hợp pháp. Nay Chị B xin ly hôn với anh H nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bị đơn anh Đỗ Tấn H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn
cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Xét yêu cầu xin ly hôn của Chị B:
Tại phiên tòa, Chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H lý do giữa Chị B
và anh H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2020, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, sống không hợp, chị và anh H đã ly thân từ năm 2020 đến nay,giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn. Anh H xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh đồng ý ly hôn với Chị B. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa Chị B và anh H đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ năm 2020 đến nay, anh H cũng đồng ý ly hôn với Chị B, do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa Chị B và anh H là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị B theo qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị B và anh H có 01 con chung là Đỗ Thị Mỹ P sinh năm 2010.
Khi ly hôn Chị B và anh H thống nhất giao cháu P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng,Chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, thực hiện vào ngày 14 tây hàng tháng, thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy từ khi ly thân cho tới nay, cháu P sống với anh H được chăm sóc chu đáo, đồng thời nguyện vọng của cháu P là được sống với anh H cũng phù hợp với ý kiến của Chị B và anh H, do đó cần giao cháu P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất và không làm ảnh hưởng cuộc sống ổn định của cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận Chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, thực hiện vào ngày 14 tây hàng tháng, thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- 3 -
Về tài sản chung: Chị B và anh H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án
giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị B và anh H xác định nợ chung không có, không yêu cầu Tỏa án
xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và
300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án,đề nghị áp dụng các Điều 51, 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia
đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị B, cho Chị B ly hôn với anh H, về con chung đề nghị giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận Chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, thực hiện vào ngày 14 tây hàng tháng, thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Đoàn Thị Kim
B: cho chị Đoàn Thị Kim B được ly hôn với anh Đỗ Tấn H.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Mỹ P sinh năm 2010 cho anh Đỗ Tấn H trực
tiếp nuôi dưỡng, Chị B cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, thực hiện vào ngày 14 tây hàng tháng, bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ly hôn, Chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và
300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, Chị B đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo biên lai số 0004125 ngày 21/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.
Chị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- 4 -
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành - Chi cục THADS huyện Châu Thành - UBND xã Tân Hội Đông, Châu Thành - Đương sự -Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Nguyễn Quốc Tường |