vanban.org

Bản án 52/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2026/HS-ST
Ngày 12 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Hải Hà và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1994, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường L, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2025 và chuyển tạm giam từ ngày 15/11/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 06 tháng 11 năm 2025, Tổ công tác của Công an xã B, tỉnh Ninh đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu đô thị B thuộc địa phận thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình. Tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn T, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố A, phường L, tỉnh Ninh Bình đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Qúa trình làm việc Tổ công tác phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của T đang cất giữ 01 túi nilon miệng túi kẹp nhựa viền màu đỏ kích thước (6,7x04)cm, mở ra bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận chất tinh thể là ma túy, loại Methamphetamine, vừa mua và cất giữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T, thu giữ 01 túi nilon miệng túi kẹp nhựa viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” và làm thủ tục bàn giao Nguyễn Văn T cùng vật chứng về trụ sở làm việc để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 06/11/2025, công an đã thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T đựng trong chai nhựa được niêm phong ký hiệu “NT01” theo quy định của pháp luật.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn T tại tổ dân phố A, phường L, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là: CSĐT) - Công an tỉnh N không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án.

* Tại Bản kết luận giám định số 1817/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,242g (Không phẩy hai trăm bốn mươi hai gam), loại Methamphetamine”.

Tại Bản kết luận giám định số 1826/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 (ghi thu của Nguyễn Văn T, sinh năm 1994, nơi thường trú: TDP A, phường L, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định”. Mẫu vật đã sử dụng hết để giám định.

Về nguồn gốc chất ma túy, theo Nguyễn Văn T khai: Vào khoảng 10 giờ ngày 06 tháng 11 năm 2025, T đi nhờ xe của một người đi đường không quen biết đến khu vực cầu S thuộc xã B, T đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, đeo khẩu trang, đầu đội mũ bảo hiểm (không biết nhân thân, lai lịch) đang đứng ở lề đường 21B khu vực trước cầu S, T đến hỏi mua của người này 500.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý, T đưa 500.000 đồng, người này cầm tiền và đưa cho T 01 túi nilon miệng túi kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng, T biết là ma túy nên cầm trong lòng bàn tay trái đi bộ về Khu đô thị B tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

* Về vật chứng: Đối với số Methamphetamine được Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1817/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Ninh Bình để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

* Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS-KV6 ngày 28 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo; rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý của bản thân vào ngày 06/11/2025 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định rõ việc mua và cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân, không có bất kỳ mục đích nào khác; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản thân không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma tuý cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hồi 11 giờ 10 phút, ngày 06/11/2025, tại Khu đô thị B thuộc địa phận thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn T đang có hành vi cất giữ trái phép 0,242 (Không phẩy hai trăm bốn mươi hai) gam chất ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Tổ công tác Công an xã B, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt đươc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm xã hội mất ổn định. Bị cáo là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, nhưng lại thiếu ý thức trong học tập, rèn luyện, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, cũng như tác dụng phòng ngừa tội phạm chung, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay.

+ Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Nguyễn Văn T đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự nên quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh, tình hình kinh tế và mục đích phạm tội của bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 (Một) Phong bì dán kín, niêm phong có số 1817/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”, mặt sau có ba dấu của Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T như bị cáo đã khai. HĐXX thấy do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý người này theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/11/2025.

2. p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) Phong bì dán kín, niêm phong có số 1817/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”, mặt sau có ba dấu của Phòng K - Công an tỉnh N.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình ngày 03/02/2026)

3. Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- n xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ