- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 46; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2026/HS-ST Ngày 12-5-2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Chu Minh Đôn;
Ông Phạm Xuân Hào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy H, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: xxx/yy Nguyễn Chí Thanh, khu phố T A, phường Phú An, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hấu; bị cáo có vợ tên Đoàn Thị M và có 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 11/02/2026 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Chu Văn Tr (chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Chu Văn X, sinh năm 1955;
Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1956;
Bà Phan Thị T, sinh năm 1974;
Ông Chu Văn T1, sinh năm 2004;
Ông Chu Văn T2, sinh năm 2005;
Cùng nơi cư trú: Ấp xy, xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Chu Văn X, bà Nguyễn Thị Ph, ông Chu Văn T1 và ông Chu Văn T2 ủy quyền cho bà Phan Thị T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp xy, xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 30/3/2026. Vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng PQ; địa chỉ: Thửa đất số x, tờ bản đồ số y, đường Huỳnh Văn Cù, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là phường Thủ Dầu Một, Thành phố Hồ Chí Minh); người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Yến S; chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc. Vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Duy H có giấy phép lái xe hạng C số xxxxyyyy do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 22/8/2023, có giá trị đến ngày 22/8/2028.
Khoảng 08 giờ ngày 26/4/2025, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển số 61C-xxx.yy lưu thông trên đường ấp 6, số 11 hướng đến văn phòng ấp 7, xã An Linh. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường ấp 6 số 11 với đường ĐH 509 thuộc ấp 6, xã An Linh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh), H lưu thông trên đường không ưu tiên, H không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe mô tô lưu thông trên đường ưu tiên nên xảy ra va chạm với xe mô tô (không biển số) số máy CT100E143XYXY do ông Chu Văn Tr điều khiển lưu thông trên đường ĐH509 hướng từ ấp 7, xã An Linh ra đường ĐH 507. Hậu quả ông Tr bị thương nặng được gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu chữa trị đến ngày 09/8/2025 ông Chu Văn Tr tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng.
Kết luận giám định số 2496/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận về đối tượng giám định:
- Các dấu vết trượt xước cao su ở mặt lăn lốp bánh trước, có chiều từ mặt vào trục và trượt xước, bám dính chất màu trắng (dạng sơn), cong vặn đầu hai phuộc trước, gãy tay phanh trước bên phải, vỡ khuyết ốp nhựa chắn bùn bánh trước, mặt nạ trước, ốp nhựa đầu xe mô tô không biển số (số máy: CT100E143XYXY), có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái phù hợp với các dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám chất dính màu đỏ (dạng sơn), hằn kim loại ở mặt ngoài cửa sau bên trái, cạnh ngoài bậc lên xuống bên trái xe ô tô biển số 61C-xxx.yy, có chiều từ trái qua phải, từ trước về sau.
- Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện được hình thành theo cơ chế va chạm giữa mặt trước đầu xe mô tô không biển số (số máy: CT100E143XYXY) với mặt bên trái xe ô tô biển số 61C-xxx.yy theo hướng từ trái qua phải của xe ô tô biển số 61C-xxx.yy tạo ra dấu vết trên hai xe.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm ở khu vực phía trước đầu xe mô tô không biển số (số máy CT100E143XYXY), ký hiệu số 2 như sơ đồ hiện trường.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 305/2025/KLGĐ-TTPY ngày 18/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương đối với ông Chu Văn Tr: Chấn thương sọ não: vết thương thái dương - đỉnh phải 5,5 x 2cm, sẹo lành, tụ máu ngoài màng cứng trán trái, dập não xuất huyết trán trái, xuất huyết não bao trong - cạnh não thất bên phải, xuất huyết trong mô não thất bên hai bên, xuất huyết dưới nhện rải rác, gãy thành hốc mắt - cung gò má - xoang trán trái, gãy thành xoang hàm - xoang sàng hai bên, thành xoang bướm, nứt xương đá phải, đã điều trị nội khoa. Hiện tại bệnh nhân mở mắt, không tiếp xúc, còn ống thông dạ dày, còn ống mở khí quản thở oxy. Di chứng: Hội chứng sa sút trí tuệ sau chấn thương sọ não, liệt tứ chi mức độ nặng, tiêu tiểu không tự chủ.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Chu Văn Tr tại thời điểm giám định là 98%.
- Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 11/2025/KLTTHS-PYHCM-CS2 ngày 08/01/2026 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Chu Văn Tr: Nạn nhân Chu Văn Tr bị chấn thương sọ não mức độ nặng, không hồi phục sau điều trị, di chứng sa sút trí tuệ hoàn toàn, liệt tứ chi, thể trạng suy kiệt nặng, dẫn đến tử vong.
- Về thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 xe ô tô biển số 61C-xxx.yy kèm Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường thuộc sở hữu của Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng PQ; 01 xe mô tô không biển số, số máy CT100E143XYXY của ông Chu Văn Tr; 01 giấy phép lái xe hạng C số xxxxyyyy mang tên Nguyễn Duy H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô biển số 61C-xxx.yy kèm Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng PQ và trả lại xe mô tô không biển số, số máy CT100E143XYXY cho bà Phan Thị T (vợ ông Chu Văn Tr).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Duy H đã bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại ông Chu Văn Tr số tiền 116.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 121/CT-VKSKV19 ngày 30/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo nội dung Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số xxxxyyyy mang tên Nguyễn Duy H.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thống nhất về tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy, những người nêu trên có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định dấu vết va chạm, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 26/4/2025, bị cáo Nguyễn Duy H điều khiển xe ô tô biển số 61C-xxx.yy lưu thông trên đường ấp 6, số 11 hướng đến văn phòng ấp 7, xã An Linh. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường ấp 6, số 11 với đường ĐH 509 thuộc ấp 6, xã An Linh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh), là khu vực giao nhau giữa đường không ưu tiên với đường ưu tiên, bị cáo không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và không nhường đường cho xe mô tô (không biển số, số máy CT100E143XYXY) do ông Chu Văn Tr điều khiển đang lưu thông trên đường ưu tiên theo hướng từ đường ĐH 509 ra đường ĐH 507 nên đã xảy ra va chạm. Hậu quả: ông Chu Văn Tr bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu, điều trị nhưng đến ngày 09/8/2025 thì tử vong.
Về tội danh: Tại nơi giao nhau giữa đường không ưu tiên với đường ưu tiên, bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, vi phạm khoản 1 Điều 22 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây tai nạn giao thông làm ông Chu Văn Tr tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi vô ý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được nghĩa vụ phải chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ khi tham gia giao thông nhưng đã không thực hiện đúng. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tai nạn giao thông do bị cáo gây ra đã làm một người tử vong, gây mất mát, đau thương cho gia đình bị hại và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn giao thông tại địa phương. Hiện nay, tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ còn diễn biến phức tạp, nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với bị cáo nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 116.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang trực tiếp chăm sóc mẹ vợ già yếu (87 tuổi). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và công việc ổn định.
Về hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khả năng tự cải tạo cao và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô biển số 61C-xxx.yy của công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng PQ, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Ngày 11/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô biển số 61C-xxx.yy kèm giấy chứng kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng PQ, công ty nhận lại tài sản và không có ý kiến, yêu cầu gì. Việc xử lý của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với 01 xe mô tô không biển số, số máy: CT100E143XYXY của ông Chu Văn Tr. Ngày 02/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bà Phan Thị T (vợ ông Tr), bà Tường đã nhận xe và không có ý kiến, yêu cầu gì. Việc xử lý của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số xxxxyyyy mang tên Nguyễn Duy H, xét đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy H.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 116.000.000 đồng (một trăm mười sáu triệu đồng) do bị cáo Nguyễn Duy H bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với đại diện hợp pháp bị hại, nên không đặt ra xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 46; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025);
Các Điều 106; 136; 292; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2021, 2025);
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/07/2025 của Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/5/2026).
Giao bị cáo Nguyễn Duy H cho Ủy ban nhân dân phường Phú An, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số xxxxyyyy mang tên Nguyễn Duy H.
(Vật chứng được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2026).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PV06); - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Dƣơng |