vanban.org

Bản án 52/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Triệu Thị N;

Về quan hệ hôn nhân: chị Triệu Thị N được ly hôn với anh Linh Du T. Về án phí: chị Triệu Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002607, ngày 22 thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị N - Linh Du T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Triệu Thị N;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2026
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Ngô Thị Hiền

bà Hoàng Thị Niên

- Thư ký phiên toà: ông Vi Văn Tần - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Ngô Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2026. Tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2026/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2026 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Triệu Thị N, sinh năm 1988; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, do Cục QLHC về TTXH cấp ngày 15/11/2021; nơi thường trú: thôn K, xã L, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn K, xã T, tỉnh Lạng Sơn - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Linh Du T, sinh năm 1993; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, do Cục Q về TTXH cấp ngày 11/8/2021; nơi cư trú: thôn K, xã L, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2026 và biên bản lấy khai ngày 09/7/2026 nguyên đơn chị Triệu Thị N trình bày:

Chị Triệu Thị N và anh Linh Du T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2023, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là UBND xã L, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau; ngoài ra, anh T chơi lô đề, cờ bạc không quan tâm đến gia đình nên chị N đã bỏ về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn K, xã T, tỉnh Lạng Sơn và sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Do vậy, chị N thấy tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Linh Du T.

- Về con chung: chị Triệu Thị N và anh L Du Tình không có con chung.

- Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị Triệu Thị N và anh L Du Tình không có tài sản chung, không vay mượn cá nhân, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Linh Du T đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn không có mặt để thể hiện ý kiến của mình về vụ án.

Theo kết quả xác minh tại thôn K, xã L, tỉnh Quảng Ninh được biết sau khi kết hôn chị N và anh T sinh sống tại địa phương, đến khoảng tháng 02 năm 2025 thì chị N bỏ về sinh sống cùng bố mẹ tại thôn K, xã T, tỉnh Lạng Sơn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình chung sống chị N và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng nhưng chị N và anh T không nhờ chính quyền địa phương hòa giải nên địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn. Về con chung chị N và anh T không có con chung.

Tại phiên tòa hôm nay anh Linh Du T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; chị Triệu Thị N có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không có thỏa thuận gì về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai và biên bản xác minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên tòa nên không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Triệu Thị N. Về con chung, về tài sản chung, về khoản nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: về quan hệ tranh chấp chị Triệu Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn có nơi cư trú tại thôn K, xã L, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa 15); điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.

Về sự vắng mặt của đương sự, bị đơn anh Linh Du T đã được Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tống đạt văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo qui định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Triệu Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị N và anh T theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn chị Triệu Thị N và bị đơn anh L Du Tình kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng chị N, anh T trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn xảy ra; nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau; ngoài ra, anh T chơi lô đề, cờ bạc không quan tâm đến gia đình, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị N xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do, như vậy thể hiện anh T không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị N là có căn cứ phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: chị Triệu Thị N và anh L Du Tình không có con chung, nên không ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị Triệu Thị N và anh L Du Tình không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Triệu Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa 15); điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Triệu Thị N;

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Triệu Thị N được ly hôn với anh Linh Du T.

2. Về án phí: chị Triệu Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002607, ngày 22 tháng 6 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh, chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ