- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Văn Tr và Cà Thị D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của anh Quàng Văn Tr đối với chị Cà Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2026/HNGĐ- ST Ngày: 12-02-2026 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thào A Páo, bà Lê Bích Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Danh- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Quàng Văn Tr, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Bản K, phường C, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Cà Thị D, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Bản B, xã M, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Quàng Văn Tr trình bày:
Về hôn nhân: Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MN(trước là xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hanh phúc đến năm 2019 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh Quàng Văn Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị ly hôn với chị Cà Thị D.
Về con chung: Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D có 01 (một) con chung là cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017. Hiện tại cháu Quàng Huyền T đang ở với chị Cà Thị D.
Anh Quàng Văn Tr đề nghị chị Cà Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quàng Huyền T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn Tr không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Quàng Văn Tr cam đoan không có nợ chung.
Trong đơn bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn chị Cà Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị Cà Thị D và anh Quàng Văn Tr kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MN(trước là xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2020 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, năm 2019 anh Trưởng đi chấp hành án, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, chị nhất trí ly hôn với anh Quàng Văn Tr.
Về con chung: Chị Cà Thị D và anh Quàng Văn Tr có 01 (một) con chung là cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017. Hiện tại cháu Quàng Huyền T đang ở với chị Cà Thị D.
Chị Cà Thị D trồng trọt, chăn nuôi, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Chị Cà Thị D có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.
Chị Cà Thị D đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quàng Huyền T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị D không yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị D cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Tại biên bản xác minh ngày 14/01/2026 tại Bản B, xã M, tỉnh Sơn La, xác định: Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La. Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Hiện nay anh Trưởng và chị Dung đã sống ly thân. Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D có 01 (một) con chung là cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017. Hiện tại cháu Quàng Huyền T đang ở với chị Cà Thị D. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Anh Quàng Văn Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Trưởng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Chị Cà Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Dung giữ nguyên yêu cầu ý kiến trong bản tự khai.
Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Quàng Huyền T có nguyện vọng là ở với mẹ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Quàng Văn Tr được ly hôn chị Cà Thị D.
Về con chung: Giao cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017 cho chị Cà Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Cà Thị D không yêu cầu).
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Quàng Văn Tr, chị Cà Thị D cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn anh Quàng Văn Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về pháp luật tố tụng:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Quàng Văn Tr yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn chị Cà Thị D có địa chỉ tại Bản B, xã M, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Quàng Văn Tr, bị đơn chị Cà Thị D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã MN(trước là xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2019, 2020 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Anh Trưởng cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị được ly hôn chị Cà Thị D, chị Cà Thị D nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trưởng và chị Dung lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho anh Quàng Văn Tr được ly hôn chị Cà Thị D. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D có 01 (một) con chung là cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017. Hiện tại cháu Quàng Huyền T ở với chị Cà Thị D.
Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D đều có ý kiến giao cháu Quàng Huyền T cho chị Cà Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Anh Quàng Văn Tr và chị Cà Thị D có nơi cư trú rõ ràng. Chị Cà Thị D trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, thu nhập bình quân hàng tháng từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Chị Cà Thị D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Huyền T từ năm 2019 cho đến nay.
Ý kiến cháu Quàng Huyền T có nguyện vọng là ở với mẹ.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017 cho chị Cà Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Cà Thị D không yêu cầu).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Quàng Văn Tr, chị Cà Thị D cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn anh Quàng Văn Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của anh Quàng Văn Tr đối với chị Cà Thị D.
Xử cho anh Quàng Văn Tr được ly hôn chị Cà Thị D.
2. Về con chung: Giao cháu Quàng Huyền T, sinh ngày 27/10/2017 cho chị Cà Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Cà Thị D không yêu cầu).
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về tài sản riêng: Không có.
5. Về nợ chung: Anh Quàng Văn Tr, chị Cà Thị D cam đoan không có nợ chung.
6. Về án phí: Anh Quàng Văn Tr phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000898, ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
8. Về quyền kháng cáo: Anh Quàng Văn Tr, chị Cà Thị D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La (2); - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Sơn La; - Đương sự; - UBND xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |