vanban.org

Bản án 52/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B:

1. Buộc bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/6/2026 là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Lưu Thị B1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng hành chính; Luật Phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2026/DS-ST
Ngày 24 - 6 -2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thu Hà

Ông Phạm Công Hạ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1

- Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2026/TLST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2026/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2026/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (tên gọi tắt BVBank); địa chỉ trụ sở: Toà nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bàn Cờ, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến Bắc - Chuyên viên xử lý nợ (Giấy uỷ quyền số 25/26/BVBank/UQ-QL&THN ngày 19/6/2025); có mặt.

- Bị đơn: Bà Lưu Thị B1, sinh năm 1972; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền L nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1972; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Lưu Thị B1 và Ngân hàng TMCP B đã ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023, Giấy nhận nợ số MB.10B.2020.GNN ngày 29/6/2023 với các điều khoản cụ thể như sau: Số tiền vay 950.000.000đồng; thời hạn vay 240 tháng kể từ ngày bên được cấp tín dụng nhận nợ vay lần đầu; mục đích vay: Để thanh toán tiền mua sắm nội thất phục vụ đời sống; lãi suất cho vay 15,79%/năm; lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 4, mức lãi suất bằng lãi suất cơ sở của BVBank tại thời điểm điều chỉnh + Biên độ 4.79%/năm; lãi suất cho vay quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; phạt chậm trả lãi 10%/năm. Số tiền trên đã được giải ngân theo phương thức nhận tiền mặt.

Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay trên là:

Quyền sử dụng diện tích đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0772100009400 ngày 01/6/2021, số công chứng 9540/HĐTC/2021, Quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Đất Cảng, thành phố Hải Phòng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Văn Phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 29/6/2023 ông Bùi Văn L đã ký Văn bản cam kết đồng trả nợ cùng với bà Lưu Thị B1.

Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP B đã giải ngân đủ số tiền vay của hợp đồng tín dụng trên cho bà Lưu Thị B1 theo hình thức nhận tiền mặt. Trong quá trình thực hiện hợp đồng cho vay bà Lưu Thị B1 đã trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền là 133.970.040 đồng, bao gồm số tiền nợ gốc đã trả là 0 đồng, số tiền nợ lãi đã trả là 133.970.040 đồng.

Bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và để phát sinh nợ quá hạn theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023 từ ngày 26/6/2024.

Tính đến ngày 24/6/2026 bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L còn nợ BVBank tổng số tiền là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng.

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày như trên, BVBank đề nghị Tòa án xem xét giải quyết những nội dung như sau:

Buộc bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải trả cho BVBank tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/6/2026 là tổng số tiền là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng và tiền lãi, phí phát sinh của số tiền còn phải thi hành theo lãi suất trong hạn, kể từ ngày 25/6/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ cho BVBank theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết.

Trường hợp bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì BVBank được quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp sau đây để xử lý thu hồi toàn bộ nợ cho BVBank:

Quyền sử dụng diện tích đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, diện tích 122m2 tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0772100009400 ngày 01/6/2021, số công chứng 9540/HĐTC/2021, Quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Đất Cảng, thành phố Hải Phòng.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm sau khi trả hết nợ cho BVBank mà còn dư thì được trả lại phần dư cho bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm mà không đủ trả hết khoản nợ thì bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho BVBank cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/3/2026 bị đơn bà Lưu Thị B1 trình bày: Bà có ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP B với số tiền vay 950.000.000đồng; thời hạn vay 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; mục đích vay: Để thanh toán tiền mua sắm nội thất phục vụ đời sống; lãi suất cho vay 15,79%/năm; lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi theo quy định của ngân hàng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1. Nay ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà phải trả nợ cho ngân hàng bà mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện cho vợ chồng bà được trả nợ dần và xin giảm một phần tiền lãi.

Người có quyền L nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn L mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật; bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 298, Điều 299, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 500, Điều 502 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B, buộc bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, phạt chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B, ông bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Bị đơn và người có quyền L nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn hiện cư trú tại tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan phải trả nợ gốc, nợ lãi: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023, Giấy nhận nợ số MB.10B.2020.GNN ngày 29/6/2023, đã ký kết giữa bên cho vay là BVBank và bên vay là bà Lưu Thị B1; căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Bà Lưu Thị B1 có ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn của BVBank với số tiền là 950.000.000đồng, ông Bùi Văn L có ký kết Văn bản cam kết đồng trả nợ ngày 29/6/2023 với BVBank việc ký kết hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản cam kết đồng trả nợ giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, được ký kết bởi người có thẩm quyền, được công chứng theo đúng quy định của pháp luật nên hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, văn bản cam kết đồng trả nợ đều phát sinh hiệu lực. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay nêu trên và khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn cho đến nay. Tại phiên tòa, BVBank yêu cầu bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/6/2026 với tổng số tiền là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023, Giấy nhận nợ số MB.10B.2020.GNN ngày 29/6/2023 và Văn bản cam kết đồng trả nợ ngày 29/6/2023. Bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L còn phải chịu tiền lãi, phí phát sinh của số tiền còn phải thanh toán theo lãi suất các bên đã thoả thuận trong hợp đồng, kể từ ngày 25/6/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ cho BVBank theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ và văn bản cam kết đồng trả nợ đã ký kết. Bị đơn thừa nhận tổng số dư nợ gốc, nợ lãi và ngày bắt đầu phát sinh nợ quá hạn như người đại diện của BVBank trình bày, bà không có ý kiến gì đối với phương thức tính lãi của BVBank; bà đề nghị được trả nợ dần và xin miễn giảm tiền lãi; người có quyền L nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và không đưa ra phương án trả nợ. Vì vậy, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan phải trả cho BVBank toàn bộ khoản nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 24/6/2026 với tổng số tiền là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023, Giấy nhận nợ số MB.10B.2020.GNN ngày 29/6/2023 và Văn bản cam kết đồng trả nợ ngày 29/6/2023. Bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 25/6/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

. Về yêu cầu của BVBank đề nghị phát mại tài sản bảo đảm nếu bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan không trả được nợ:

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay của bị đơn là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0772100009400 ngày 01/6/2021, số công chứng 9540/HĐTC/2021, Quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Đất Cảng, thành phố Hải Phòng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Văn Phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật.

Các bên ký kết hợp đồng thế chấp trên tinh thần tự nguyện, được ký kết bởi người có thẩm quyền và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và văn bản cam kết đồng trả nợ đều được ký kết bởi người có thẩm quyền, trên tinh thần tự nguyện, nội dung và hình thức đều đảm bảo đúng pháp luật phù hợp với quy định tại các điều 117, 119, 298, 299, 463, 466, 500 và 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy, hợp đồng tín dụng, văn bản cam kết đồng trả nợ và hợp đồng thế chấp tài sản đều phát sinh hiệu lực.

Tài sản bảo đảm đã được xem xét, thẩm định tại chỗ. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho thấy: Đất không có tranh chấp; đất có diện tích, các mốc giới và giáp ranh không có thay đổi gì so với khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi thế chấp cho BVBank. Về hiện trạng sử dụng: Đất có tài sản và diện tích tăng 04m2.

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất có diện tích 122m2 nhưng tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2026 thể hiện qua sơ đồ hiện trạng thửa đất thì diện tích thửa đất đo thực tế là 126m2, tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 04m2. Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Bạch Đằng xác định thửa đất trên hiện nay không có tranh chấp, sự thay đổi này là do sai số về đo vẽ và tính toán. Ngân hàng TMCP B đồng ý nếu bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì sẽ yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm đối với diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 122m2.

Vì vậy căn cứ các Điều 299, 303, 307, 320, 323, 368 của Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của BVBank, trường hợp bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì BVBank có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, diện tích 122m2 tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1 (bao gồm các mốc 3,4,7,8,9,3) có sơ đồ kèm theo.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm sau khi trả nợ còn dư sẽ được trả lại cho bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần B được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 91, 92, 96, 97, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 117, 119, 298, 299, 318, 319, 320, 323, 356, 368, 463, 466, 500 và 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 101, 103, 115, 120 Luật các tổ chức tín dụng 2024; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B:

1.1. Buộc bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/6/2026 là 1.218.760.129 đồng: Trong đó, nợ gốc là: 950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 228.475.814 đồng, nợ lãi quá hạn là: 21.668.008đồng, phạt chậm trả lãi là: 18.616.307 đồng theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0772300005600 ngày 29/6/2023, Giấy nhận nợ số MB.10B.2020.GNN ngày 29/6/2023 và Văn bản cam kết đồng trả nợ ngày 29/6/2023.

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

1.3. Trường hợp bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không trả được nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 514A, tờ bản đồ số 02, diện tích 122m2 tại địa chỉ: Thôn Khương Lư, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 9 Ngũ Lão, phường Bạch Đằng), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 525087, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01085 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 05/11/2015 cho người sử dụng là ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1 (bao gồm các mốc 3,4,7,8,9,3) có sơ đồ kèm theo.

1.4. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B mà còn dư thì được trả lại phần dư cho ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm mà không đủ trả hết khoản nợ thì ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.

2. Về án phí: Ông Bùi Văn L và bà Lưu Thị B1 phải nộp số tiền 48.563.000 đồng (Đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.000.000 đồng mà Ngân hàng Thương mại cổ phần B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000593 ngày 14/01/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Khu vực 1, thành phố Hải Phòng;

- THADS thành phố Hải Phòng;

- Đương sự;

- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

Đào Thị Linh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Linh Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Khu vực 1, thành phố Hải Phòng;

- THADS thành phố Hải Phòng;

- Đương sự;

- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

Đào Thị Linh

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất có diện tích 122m2 nhưng tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2026 thể hiện qua sơ đồ hiện trạng thửa đất thì diện tích thửa đất đo thực tế là 126m2, tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 04m2. Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Bạch Đằng xác định thửa đất trên hiện nay không có tranh chấp, sự thay đổi này là do sai số về đo vẽ và tính toán. Ngân hàng TMCP B đồng ý nếu bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì sẽ yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm đối với diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 122m2. Do đó khi bà Lưu Thị B1 và ông Bùi Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là có căn cứ hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận nhưng chỉ tuyên phát mại đối với diện tích đất là 122m2. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hải phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Thuỷ nguyên;

- Chi cục THADS thành phố Thuỷ nguyên;

- Đương sự;

- Lưu:VT; hồ sơ vụ án.

Nguyễn Nam Ninh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Ninh

Cỡ chữ