- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Như H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Như H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2025/HSST Ngày 08 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU-TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Ông Trần Phạm Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2025/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Như H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/5/1996, tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Trần Như H1, sinh năm 1968; Mẹ: Lâm Thị Tường U, sinh năm 1971; Chị, em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1993, nhỏ là bị cáo; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 14/01/2025 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Như H nghiện ma tuý từ khoảng tháng 5 năm 2022 và biết tại hẻm không số, đường H, Khóm F, Phường G, thành phố B, có người bán ma tuý.
Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 05/01/2025, do muốn sử dụng ma tuý, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94F2-7397, đến hẻm không số, Khóm F, Phường G, thành phố B, để mua ma tuý. Khi vào hẻm khoảng 100m, bị cáo gặp người thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân), người này hỏi “Lấy nhiêu”, bị cáo trả lời “Lấy ba” và đưa cho người này 300.000đ, bị cáo nhận 01 bịch ma tuý rồi cất giấu vào túi áo khoác bên trái.
Sau đó, bị cáo điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng ma tuý nhưng khi đến khu vực vòng xoay cầu D, khóm C, phường H, thành phố B thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – kinh tế, Công an thành phố B kiểm tra, thu giữ tang vật là 01 bịch nylon màu trắng, có kích thước 1,8cm x 02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý và các đồ vật có liên quan.
Tại Bản Kết luận giám định số: 13/KL-KTHS, ngày 13/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể, bên trong 01 bịch ny lon kích thước 1,8cm x 02cm là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,22456 gam”.
Kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 05/01/2025 của Trạm y tế Phường 1 thành phố B, xác định: “Trần Như H dương tính với chất gây nghiện M và A”.
Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như như đã nêu trên.
Bản Cáo Trạng số 49/CT-VKS-HS ngày 25/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị caùo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có trọng lượng 0,21845 gam và các vỏ phong bì, bao gói.
- Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai khác của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 05 tháng 01 năm 2025, tại khu vực vòng xoay cầu D, khóm C, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trần Như H bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,22456 gam Methamphetamine. Bị cáo khai nhận số ma túy bị cáo tàng trữ là của bị cáo mua, nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích và cũng để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định 0,21845 gam, các vỏ phong bì, bao gói, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do chưa rõ nhân thân nên không làm việc được, cho nên không có căn cứ xử lý trong cùng vụ án này. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Như H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Như H 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành hình phạt, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ trước từ ngày 05/01/2025 đến ngày 14/01/2025.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,21845 gam, các vỏ phong bì, bao gói.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17.3.2025.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Như H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tp. Bạc Liêu; - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - Chi cục thi hành án dân sự Tp.BL; - Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | (đã ký) Lê Hồng Lam |