- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Hữu D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hữu D phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày 21/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cường D.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Lê Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 11/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 11/9/2025 đối với bị cáo:
Ngô Hữu D, sinh năm 1973. HKTT: Thôn CĐ, xã TC, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Hữu Đ, sinh năm 1945 (đã chết) và bà D1 Thị T, sinh năm 1949; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/6/2025 đến nay. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1967 (Đã chết);
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Hà Thị M, sinh năm 1949 (Mẹ đẻ);
2. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969 (vợ);
3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (con);
4. Chị Nguyễn Thị Nguyệt H1, sinh năm 1995 (con);
5. Anh Nguyễn Tiến Đ2, sinh năm 2000 (con);
6. Chị Nguyễn Thị Hải H2, sinh năm 1992 (con);
Đều trú tại: Thôn VT, xã TC, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Nguyệt H1, anh Nguyễn Tiến Đ2, chị Nguyễn Thị Hải H2, bà Hà Thị M là: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969. Trú tại: Thôn VT, xã TC, tỉnh Bắc Ninh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 03/6/2025, tại đường dân sinh thôn VT, xã TC, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe ô tô tải nhãn hiệu CNHT, loại tải tự đổ, màu xanh, biển kiểm soát (BKS) 99C-184.36 do Ngô Hữu D đi lùi theo hướng nối từ QL38 cũ đi cầu ĐX va chạm với ông Nguyễn Văn D1 đang chống gậy, đi bộ cùng chiều. Hậu quả, ông D1 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện sau đó tử vong. Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành các hoạt động điều tra để làm rõ vụ tai nạn giao thông như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường xảy ra tai nạn: Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường thôn VT, xã TC, tỉnh Bắc Ninh, đường được trải bê tông phẳng, bề mặt có nhiều cát rơi vãi. Tính theo chiều từ cầu ĐX đi quốc lộ 38 cũ, bên phải đường tiếp giáp có lối mở đường rộng 11m và thu hẹp theo đường vòng cung đến cuối là 5m được đổ bê tông phẳng rộng đi vào thôn VT, tiếp đến là cánh đồng lúa của làng, bên trái đường tiếp giáp công trình đang thi công cống thoát nước dài 257m, rộng 5,4m và sâu 1,5m so với bề mặt đường, điểm cuối công trình này tiếp giáp đường bê tông nhỏ rộng 2,5m để đi về cánh đồng lúa bên trái đường và tiếp đến là lối mở đường đã được đổ bê tông phẳng rộng 10,2m.
- Dấu vết phát hiện: (1) Chiếc giày trái bên trong mũ cối; (2) Xe ô tô tải BKS: 99C-184.36.
- Quy ước: Phải trái đường thôn VT được tính theo chiều cầu ĐX đi quốc lộ 38 cũ, các số đo được đo tính vào mép trái đường. Chọn mép trái đường đi vào thôn VT tính theo hướng nhìn vào đo theo phương vuông góc làm mốc.
- Mô tả: (1) Chiếc giày trái bên trong mũ cối diện tích (0,4x0,2)m trên bề mặt đường thôn VT. Tâm của (1) cách mép đường 2,1m và cách vị trí mốc được chọn về phía cầu ĐX là 18,8m. (1) trong tư thế ngửa đựng chiếc giày trái bên trong.
(2) Xe ô tô tải BKS: 99C-184.36 đỗ bên trái đường đoạn đường đã được mở rộng và đã đổ bê tông rộng 10,2m. Đầu xe hướng quốc lộ 38 cũ, đuôi xe hướng cầu ĐX. Đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn về phía mép phải đường là 1,7m. Đầu trục bánh hai bên phải cách mép đường chuẩn về phía mép phải đường là 1,7m. Đầu trục bánh bên phải cách mép đường chuẩn về phía mép phải đường đường là 1,6m và cách điểm cuối công trình cống thoát nước và tâm của (1) cùng về phái cầu ĐX lần lượt là 30,3m và 204,3m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường tạm giữ 01 xe ô tô BKS 99C-184.36; 01 chiếc giày bên trái, 01 chiếc mũ cối.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện, chiếc xe ô tô BKS 99C-184.36:
- Trục bánh số 3 bên trái dạng bánh kép đường kính 111cm, thành lốp dày 25cm, mặt lăn bánh rộng 25,5cm, mặt lăn này có bốn vân lồi và ba rãnh vân, vân lồi ở hai bên ngoài rộng 6,5cm; Hai vân ở giữa rộng 5,5cm. Các vân lồi cách nhau 1,5cm. Khoảng cách giữa hai mặt lăn của hai bánh lốp kép là 9,5cm.
- Trục bánh số 4 bên trái dạng bánh kép, đường kính bánh 109cm, thành lốp dày 23,5cm, mặt lăn bánh rộng 24cm, mặt lăn này có các vân lồi rộng 5cm nằm chéo, khoảng cách giữa các vân lồi là 0,7cm, khoảng cách giữa hai mặt lăn của bánh lốp là 11 cm.
- Khoảng cách giữa mặt lăn trục bánh số 3 và số 4 gần nhất là 23cm.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: tình trạng xe hoạt động bình thường.
* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn D1:
- Khám ngoài: Mặc áo phông cộc tay màu xanh; toàn bộ thân áo phía trước đến mặt trước ống tay áo bên phải rải rác có bám dính chất màu nâu, bên phải nhiều hơn bên trái; Toàn bộ nửa bên phải mặt áo phía sau có bám dính chất màu nâu điện 60x90cm. Mặc quần soóc màu xám đen, toàn bộ thân quần bên phải phía trước và mặt trước hai ống quần có bám dính nhiều chất màu nâu, bên phải nhiều hơn bên trái; Rách bung đường chỉ may giữa quần phía trước dài 26cm, toàn bộ thân quần phía sau có bám dính nhiều chất màu nâu, bên phải nhiều hơn bên trái. Trong đó tại vùng chất màu nâu bên trái có dấu vết chất màu nâu nằm ngang tương đối đều nhau rộng 5cm và khoảng cách các vết nằm ngang là 2cm.
+ Vùng đầu, mặt, cổ: Vùng gò má phải có diện sây sát da kích thước 3,5x3cm; Vùng gò má trái và vùng má trái có diện sây sát da kích thước 10x5cm; Vùng cổ trước đến mặt trước hai vai, đến vùng trước ngực có nhiều vết hằn, bầm tụ máu dưới da diện 45x25 cm.
+ Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Vùng nách phải đến vùng hạ sườn phải, bụng phải và nửa trước ngoài đùi phải có nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu không liên tục trên diện 67x25cm;
+ Vùng chậu, sinh dục: Khung chậu mất vững; Vùng da bìu có vết rách da không liên tục kích thước 7x4cm.
+ Tay, chân: Mặt trước và mặt ngoài nửa trên cẳng tay phải có nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu diện 18x10cm. Mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải đến khuỷu tay có diện sây sát da, bầm tụ máu kích thước 25x9cm. Mặt sau 1/2 trên cánh tay trái có nhiều vết hằn, bầm tụ máu màu đỏ tím nằm ngang diện 25x24cm, trong đó có một số vết hằn có chiều rộng tương đối bằng nhau bằng 0,6cm và cách nhau khoảng cách 5,5cm. Gãy kín 1/3 xương cánh tay phải; Mặt sau và mặt ngoài nửa dưới đùi phải đến mặt sau ngoài cẳng chân có nhiều vết bằm tụ máu, xây sát da diện 35x15cm. Gãy kín 1/3 giữa xương đùi phải; Mặt trong đầu gối phải có diện sây sát da kích thước 15x8cm. Mặt sau ngoài mông trái đến nửa trên đùi trái có nhiều vết hằn màu đỏ tím nằm ngang có tính chất tương tự như các vết hằn ở mặt sau 1/3 trên cánh tay trái. Mặt trong đầu gối trái có nhiều vết sây sát da trên diện 12x13cm. Mặt trong cổ chân trái đến mu bàn chân có diện rách toạc, vỡ dập nát da cơ kích thước 25x12cm.
- Khám trong: Giải phẫu vùng ngực bụng thấy tụ máu dưới da vùng nửa trên ngực, tụ máu vùng cổ quanh hỗm ức và, cơ liên sườn từ số 1 đến số 5 hai bên diện 25x20cm. Gãy 1/3 giữa xương đòn phải, gãy đầu sụn sườn số 1 đến số 5 bên phải; Gãy đầu sụn sườn số 1,2 bên trái; Gãy rời khớp ức đòn hai bên; Gãy 1/3 giữa xương ức; Gãy cung bên xương sườn 2,4,6. Khoang lồng ngực bên phải có chứa nhiều máu. Gãy cung sau xương sườn từ số 5 đến số 9 bên phải. Tụ máu mặt sau và mặt ngoài toàn bộ phổi phải, mặt sau và mặt ngoài thùy giữa phổi phải diện 5x7cm. Khoang lòng ngực bên trái có chứa nhiều máu. Gãy cung bên xương sườn bên trái số 2,3,4,5. Tụ máu mặt sau và mặt ngoài phổi trái. Tụ máu mặt trước bao tim kích thước 8x2cm; Tim đã thay van hai lá. Rách vòm hoành bên trái kích thước 7x4cm. Khoang ổ bụng có chứa ít dịch màu nâu đỏ. Tụ máu sau phúc mạc vùng tiểu khung. Dập nát một phần mạc treo ruột non. Các tạng khác không phát hiện tổn thương. Dạ dày có chưa ít dịch, niêm mạc dạ dày xung huyết mạnh.
Quá trình khám nghiệm tử thi có thu giữ mẫu máu, quần áo mặc trên người của ông D1.
- Tại bản Kết luận giám định tử thi pháp y số 1327/KLPY-PC09 ngày 23/06/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn D1, sinh năm 1967, trú tại: VT, TC, Bắc Ninh là đa chấn thương. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vùng ngực, tay trái, mông trái, đùi trái là do các vùng này bị đè ép bởi hai vật tày gây ra, tổn thương các vùng mặt, tay phải chân phải do tác động với vật tày diện rộng gây ra”.
- Tại bản Kết luận giám định số 1376/KL-KTHS ngày 27/06/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Dấu vết in, bám đất bẩn màu nâu vàng tại mặt sau ngoài ống quần bên trái chiếc quần gửi giám định (ảnh 3 trong bản ảnh giám định) có chiều in từ sau ra trước, từ trái sang phải, có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt lăn lốp bánh phía ngoài bên trái trên trục sau cùng của xe ô tô biển số 99C-184.36 (ảnh 5, 6 trong bản ảnh giám định).
- Tại bản Kết luận giám định số 1263/KL-KTHS ngày 13/06/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn D1, sinh năm 1967, nơi thường trú: VT, TC, Bắc Ninh gửi giám định không tìm thấy thành phần chất ma tuý và thành phần Ethanol (cồn)”.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và căn cứ vào kết quả xác minh đã làm rõ được vụ án có nội dung như sau:
Ngô Hữu D có giấy phép lái xe hạng D do Sở giao thông vận tải cấp số 270060270277 ngày 19/7/2024; có giá trị đến ngày 19/7/2029, hiện đang làm làm nghề lái xe ô tô tải và là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu CNHT, loại tải tự đổ, màu xanh, BKS số 99C-184.36. Ông Nguyễn Văn D1 là người có tiền sử bị tai biến, gặp khó khăn trong vấn đề đi lại. Giữa D và ông D1 có quan hệ là người cùng xã, không có mâu thuẫn gì.
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 03/6/2025, D điều khiển chiếc xe ô tô BKS 99C-184.36 đi một mình đến khu công trường thuộc công trình cải tạo mặt đường, hệ thống thoát nước thôn VT để chở đất, bùn thải thuê. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường dân sinh từ đầu thôn VT vào phía trong thôn (hướng từ Quốc lộ 38 cũ đi cầu ĐX), do đoạn đường phía trong hẹp, không có chỗ quay đầu nên D điều khiển xe đi lùi từ đoạn đường đầu thôn vào trong làng, tốc độ xe khoảng 5 km/h. Đoạn đường đến chỗ lấy đất bùn khoảng hơn 300m. D đi lùi được khoảng 100m thì quan sát thấy cách đuôi xe ô tô của D điều khiển khoảng 100m là ông D1 đang chống gậy, đi bộ hướng vào trong thôn VT, đi ở chiều bên phải xe. D tiếp tục đi lùi, bám sát đường bên trái theo chiều xe, đi lùi thêm được khoảng hơn 100m, do chủ quan nghĩ ông D1 đi bên phải xe, không chú ý quan sát nên chiếc xe ô tô BKS 99C-184.36 do D điều khiển đã va chạm với ông D1. Khi D thấy bánh xe phía sau, bên trái hơi kênh lên, quan sát qua gương chiếu hậu, phía sau xe bên trái, thì thấy ông D1 ngã ra đường ngay gầm sau bên trái xe ô tô do D điều khiển, bánh lốp sau cùng bên trái xe ô tô đè lên hai chân của ông D1. D liền đạp chân phanh, dừng xe và chạy lại kiểm tra thì thấy ông D1 nằm sấp hơi nghiêng về giữa đường, đầu quay về phía trong thôn VT, phần bánh lốp xe ô tô sau cùng bên trái đang nằm đè lên chân của ông D1, sau đó D lên xe ô tô và di chuyển tiến lên phía trước khoảng 5m để bánh lốp xe ô tô không đè nên người ông D1 để mọi người đưa ông D1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh, sau đó ông D1 tử vong.
* Về vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
- Ngày 3/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã tạm giữ của D 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 99C-184.36; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy phép lái xe mang tên Ngô Hữu D. Ngày 2/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả 01 chiếc xe ô tô BKS 099C-184.36, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận kiểm định cho D.
- Ngày 27/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969, HKTT tại thôn VT, xã TC (là vợ và đại diện theo ủy quyền của gia đình ông D1) 01 chiếc mũ cối, 01 chiếc áo, 01 chiếc quần, 01 chiếc giày.
* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, D đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại ông D1 tổng số tiền 150.000.000 đồng. Bà Đ1 đã nhận đủ số tiền trên đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 11/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố Ngô Hữu D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ngô Hữu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên các ý kiến, lời khai của bà Đ1 có trong hồ sơ vụ án được Tòa án công bố theo quy định.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Ngô Hữu D từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại đã nhận được tiền bồi thường và tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng D số: 270060270277 mang tên Ngô Hữu D.
Bị cáo Ngô Hữu D nhận tội, không có ý kiến gì với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên Công an tỉnh Bắc Ninh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Hữu D hoàn toàn phù hợp với địa điểm, không gian, thời gian phạm tội, biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận khám nghiệm tử thi; biên bản khám nghiệm xe ô tô; đơn xin đầu thú, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện như sau: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 3/6/2025, tại đường dân sinh thuộc địa phận thôn VT, xã TC, tỉnh Bắc Ninh, Ngô Hữu D có hành vi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu CNHT, loại tải tự đổ, màu xanh, BKS 99C-184.36 không chú ý quan sát, lùi xe không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với ông Nguyễn Văn D1 đi bộ cùng chiều. Hậu quả, ông D1 tử vong.
Hành vi của Ngô Hữu D đã vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019; khoản 1 Điều 16 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Vì vậy, thấy đã đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Ngô Hữu D đã phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mối lo ngại cho mọi người khi tham gia giao thông trên đường. Bản thân bị cáo đã được đào tạo sát hạch lái xe, hoàn toàn nhận thức được phải tuân thủ những quy định chung, không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm. Song do ý thức chủ quan, không chú ý quan sát, bị cáo đã điều khiển phương tiện tham gia giao thông lùi xe không đảm bảo an toàn, bị cáo không tuân thủ những quy định chung của Luật giao thông đường bộ, gây ra tai nạn làm ông Nguyễn Văn D1 tử vong. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; tự nguyện ra đầu thú; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường đồng thời phía gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và đề nghị xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp nên cần chấp nhận. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị hại đã nhận được tiền bồi thường và tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Ngày 02/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả 01 chiếc xe ô tô BKS 099C-184.36, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận kiểm định cho D là phù hợp.
Ngày 27/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ1 (là vợ và đại diện theo ủy quyền của gia đình ông D1) 01 chiếc mũ cối, 01 chiếc áo, 01 chiếc quần, 01 chiếc giày là phù hợp.
Trả lại bị cáo Ngô Hữu D 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng D số: 270060270277 mang tên Ngô Hữu D cấp ngày 19/7/2024.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hữu D phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Hữu D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TC, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Ngô Hữu D 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng D số: 270060270277 mang tên Ngô Hữu D cấp ngày 19/7/2024.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Hữu D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND/VKSND/Công an/Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - VKSND khu vực 8 - Bắc Ninh; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Bắc Ninh (HLPL); - UBND xã TC, tỉnh Bắc Ninh; - Người TGTT; - Lưu HS, VP. TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi .... giờ ..... phút ngày 21 tháng 9 năm 2025. Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Cường D. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Lê Thị Xuân. 11/9/2025 đối với bị cáo: Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: tham gia giao thông đường bộ”. Kết quả biểu quyết: Đồng ý nhất trí 3/3. 2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. trong thời gian thử thách. theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: Đồng ý nhất trí 3/3. 3. Về các vấn đề khác: hạng D số: 270060270277 mang tên Ngô Hữu D cấp ngày 19/7/2024. kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: Đồng ý nhất trí 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi .... giờ ... phút, ngày 21 tháng 9 năm 2025. cùng nghe và ký tên. HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Quang Lưu Lê Thị Xuân | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cường Dũng CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS, ngày Ngô Hữu D, sinh năm 1973. HKTT: Thôn Chi Đống, xã TC, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Xử phạt: Bị cáo Ngô Hữu D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TC, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện - Về vật chứng vụ án: Trả lại bị cáo Ngô Hữu D 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô - Về án phí: Bị cáo Ngô Hữu D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cường D |