vanban.org

Bản án 52/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tất Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Tất Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2025. Phạt tiền bị cáo Đoàn Tất Đ 3.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoàn Tất Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tất Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST
Ngày 16 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị An;

2. Bà Hoàng Thị Phụng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/HSST ngày 27 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đoàn Tất Đ, sinh năm 1973.

Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (địa chỉ hiện nay: thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Tất T và bà Pham Thị B; vợ Phạm Thị N; 02, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/12/2012, Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng theo quyết định số 3647/QĐ- UB, đã chấp hành xong ngày 20/12/2013. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/6/2025, đến ngày 07/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên. (Trích xuất có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến:

- Ông Đoàn Minh C, sinh năm 1958. (vắng mặt)

- Ông Bùi Xuân N, sinh năm 1956. (vắng mặt)

Đều cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: là thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 01/6/2025, Đoàn Tất Đ, sinh năm 1973, nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên) đi nhờ xe của một người qua đường không quen biết đến khu vực chợ Đậu, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên) tìm mua ma túy để sử dụng. Khi gần đến khu vực chợ Đậu, Đáp xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không quen biết, qua nói chuyện biết người này có bán ma túy nên Đ hỏi mua. Đáp đưa cho người đàn ông 200.000 đồng và người đàn ông đưa lại cho Đ 02 (hai) gói, trong đó có 01 (một) gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, 01 (một) gói được gói bằng giấy có nhiều màu, Đ biết đây là 02 (hai) gói ma túy, loại Heroine nên cầm cất giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe về nhà. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên), Đáp xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy, bị tổ công tác Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) phát hiện có nghi vấn liên quan đến ma tuý nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Đoàn Minh C, sinh năm 1958 và ông Bùi Xuân N, sinh năm 1956 đều cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, xã T, tỉnh Thái Bình) Đáp tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01(một) gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, 01 (một) gói được gói bằng giấy có nhiều màu, Đ khai nhận là ma tuý, loại Heroine, mua mục đích để sử dụng (sau giám định là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,2309 gam). Sau đó, Cơ quan Công an đã đưa Đ cùng tang vật và mời người chứng kiến về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên) lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu theo quy định pháp luật.

Tại Bản luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên), kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2309 gam (Không phẩy hai nghìn ba trăm linh chín gam)

Tại bản cáo trạng số 26/CT - VKSTPTB ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố bị cáo Đoàn Tất Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Tất Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

Xử phạt bị cáo Đoàn Tất Đ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1866 gam Heroine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 554/KL-KTHS ngày 05/6/2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 01/6/2025, tại đoạn đường thuộc thôn Trung Hoà, xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên), bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2309 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) lập hồi 11 giờ ngày 01/6/2025 tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) lập hồi 12 giờ 20 phút ngày 01/6/2025, tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên); Kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên); Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: ông Đoàn Minh C, sinh năm 1958 và ông Bùi Xuân N, sinh năm 1956 đều cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên) và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Đoàn Tất Đ đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng, năm 2012 Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đưa bị cáo vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng theo quyết định số 3647/QĐ- UB do đó cần áp dụng hình bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: 0,1866 gam Heroine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 554/KL-KTHS ngày 05/6/2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên), là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai tại khu vực chợ Đậu, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên) gặp và mua 02 gói ma tuý, loại Heroine của người đàn ông khoảng 50 tuổi không quen biết với giá 100.000 đồng/01 gói, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được người đã bán ma túy cho Đ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 35; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tất Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Tất Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2025.

Phạt tiền bị cáo Đoàn Tất Đ 3.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1866 gam Heroine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 554/KL-KTHS ngày 05/6/2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên).

(Vật chứng trên được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Hưng Yên quản lý).

4. Về án phí: Bị cáo Đoàn Tất Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Tất Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ