vanban.org

Bản án 52/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26 tháng 12 năm 2025. Giao bị cáo Triệu Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST
Ngày 26-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trương Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Xuân;

Ông Nhữ Phú Thịnh.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Minh - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Triệu Văn H, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1983 tại xã C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn T và con bà: Triệu Thị G; vợ: Lành Thị L, sinh năm 1984; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2025 đến nay; có mặt.

- Bị hại: ông Đỗ Đăng H, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn P, xã C, tỉnh Lạng Sơn (đã chết).

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị hại anh Đỗ Đăng H:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951; địa chỉ: thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

2. Chị Đỗ Ngọc A, sinh năm 1995; vắng mặt.

3. Chị Đỗ Huyền T, sinh năm 1999; vắng mặt.

4. Anh Đỗ Đăng Q, sinh năm 2004; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn P, xã C, tỉnh Lạng Sơn.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T, chị Đỗ Ngọc A, chị Đỗ Huyền T, anh Đỗ Đăng Q: bà Nhữ Thị D, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn P, xã C, tỉnh Lạng Sơn (theo giấy ủy quyền ngày 19/6/2025); vắng mặt.

5. Bà Nhữ Thị D, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn P, xã C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Quang K, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ dân phố 03, xã K, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

2. Chị Lành Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Lý Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Triệu Văn H có giấy phép lái xe hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/10/2024, có giá trị đến ngày 22/10/2029, là lái xe theo hợp đồng cho anh Trần Quang K.

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 02/5/2025 bị cáo Triệu Văn H điều khiển xe ô tô biển số 49F-006.41 (xe của anh Trần Quang K) chở công nhân từ khu Công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh về xã T và xã H, tỉnh Lạng Sơn, sau khi trả hết công nhân đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo Triệu Văn H điều khiển xe ô tô trên Quốc lộ 1 theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn rẽ phải vào Tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ Nông Sản xã C và khu dân cư xã C thuộc địa phận thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Do khi chuyển hướng rẽ phải bị cáo Triệu Văn H không chú ý quan sát nên khi đi hết đoạn đường vào cua xong, phần bánh lốp sau bên phải xe ô tô đã chèn qua người bị hại anh Đỗ Đăng H đang nằm ở giữa Tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ Nông Sản và khu dân cư xã C. Hậu quả: anh Đỗ Đăng H tử vong tại chỗ.

Kết quả kiểm tra ngày 02/5/2025 đối với bị cáo Triệu Văn H không có nồng độ cồn, âm tính với các chất ma túy.

Tại bản Kết luâ ̣n Giám định tử thi số 383/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luâ ̣n: nguyên nhân chết của anh Đỗ Đăng H do đa chấn thương.

Tại bản Kết luâ ̣n giám định số 381/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luâ ̣n: Trong mẫu máu thu của Đỗ Đăng H gửi giám định có chứa Ethanol, nồng độ 292 mg/ 100 ml. Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Heroin, Morphine, 6MAM, Ketamine, Methamphetamine, MDMA, THC...) trong mẫu máu gửi giám định thu của Đỗ Đăng H.

Tại bản Kết luâ ̣n giám định kỹ thuâ ̣t số 16/GĐKT-ĐK ngày 06/06/2025 của Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn, kết luâ ̣n: xe ô tô khách có giường nằm biển số 49F-006.41 (biển số nền vàng) khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ xác định: vị trí xảy ra tai nạn tại Tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ Nông Sản và khu dân cư thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn; đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn. Xác định lỗi trong vụ tai nạn là lỗi hỗn hợp, bị cáo Triệu Văn H điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về tốc độ, vi phạm khoản 2; điểm b, c, e khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bị hại anh Đỗ Đăng H nằm giữa đường, trong máu có nồng độ cồn 292mg/100ml đã vi phạm khoản 4 Điều 3 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn H giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo khẳng định bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng, không oan. Bị cáo khai do bản thân khi tham gia giao thông, không thực hiện đúng các quy định về tham gia giao thông đường bộ dẫn đến xảy ra tai nạn cụ thể tối ngày 02/5/2025 tại Tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ Nông Sản xã C và khu dân cư xã C thuộc địa phận thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn, khi đang đi vào vị trí đỗ hàng ngày, do không chú ý quan sát, không phát hiện ra bị hại anh Đỗ Đăng H đang nằm giữa đường nên bị cáo đã lái xe cán qua người bị hại, khi xuống xe được ông Lý Văn T nói thì mới phát hiện ra. Sau khi phát hiện ra sự việc, bị cáo hoảng loạn nên chạy về nhà báo cho vợ là bà Lành Thị L toàn bộ sự việc và được bà Lành Thị L đưa đến cơ quan Công an để trình báo còn vợ của bị cáo thì đến nhà của bị hại để thăm hỏi tình hình. Thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển số 49F – 006.41 bị cáo điều khiển không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, có phù hiệu nhưng đã hết giá trị sử dụng, bị cáo đã bị xử phạt hành chính và đã chấp hành nộp phạt theo quy định.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lành Thị L trình bày: thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo Triệu Văn H là đúng, tối ngày 02/5/2025, chị đang ở nhà thì thấy bị cáo Triệu Văn H về báo là vừa gây ra tai nạn tại đường nội bộ chợ Nông Sản xã C và khu dân cư xã C thuộc địa phận thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi biết tin, chị liền đưa bị cáo Triệu Văn H lên cơ quan công an trình báo, sau đó biết được thông tin bị hại là anh Đỗ Đăng H nên chị đã lên nhà anh Đỗ Đăng H để hỏi thăm tình hình và hộ gia đình. Đối với số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) bị cáo Triệu Văn H bồi thường cho gia đình bị hại là tiền chung của hai vợ chồng cùng tạo dựng, nay bị cáo Triệu Văn H xảy ra việc nên chị cũng nhất trí bỏ ra số tiền để bồi thường và không có ý kiến, yêu cầu gì.

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đỗ Đăng H: chị Nhữ Thị D vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện chị là vợ của anh Đỗ Đăng H, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Triệu Văn H đã đến gia đình chị và 02 bên đã thống nhất thỏa thuận bị cáo Triệu Văn H đã bồi thường cho gia đình nhà chị xong số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng), hiện gia đình không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang K vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: anh là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 49F-006.41, anh có ký hợp đồng với bị cáo Triệu Văn H. Ngày 02/5/2025 anh có giao xe cho bị cáo chở công nhân từ khu Công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh về xã T và xã H, tỉnh Lạng Sơn, quá trình lái xe, bị cáo Triệu Văn H có gây ra tai nạn, xe ô tô biển số 49F-006.41 không có thiệt hại gì. Tài sản anh đã được nhận lại đầy đủ, nay anh không có yêu cầu gì.

Người làm chứng ông Lý Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: tối ngày 02/5/2025 ông đang ngồi ở hiên trước cửa nhà thì thấy xe ô tô biển số 49F-006.41 do bị cáo Triệu Văn H điều khiển va chạm, ông có ra ngó thì phát hiện ra bị hại anh Đỗ Đăng H nằm bất động giữa đường nên có báo cho bị cáo Triệu Văn H đang trên xe biết.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng, sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: ghi nhận giữa bị cáo Triệu Văn H và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đỗ Đăng D đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại tổng số tiền 160.000.000 đồng và không có ai yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Hình sự trả lại cho bị cáo Triệu Văn H 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E, số 200064200086 mang tên Triệu Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/10/2024.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Triệu Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Triệu Văn H không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng (thể hiện tại phần đầu bản án). Xét thấy, họ đã được triệu tập hợp lệ, có đơn xin vắng mặt và có lời khai, ý kiến trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không bị ảnh hưởng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiê ̣n đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiê ̣n trong vụ án này đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trường liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiê ̣n: bị cáo Triệu Văn H có giấy phép lái xe hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/10/2024, có giá trị đến ngày 22/10/2029, là lái xe theo hợp đồng cho anh Trần Quang K. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 02/5/2025 tại Tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ Nông Sản xã C và khu dân cư xã C thuộc địa phận thôn M, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Triệu Văn H điều khiển xe ô tô biển số 49F-006.41 chuyển hướng xe đi vào tuyến đường số 3 đường nội bộ chợ nông sản xã C không đảm bảo an toàn nên bánh lốp sau của xe ô tô đã chèn qua người của Đỗ Đăng H đang nằm ở giữa đường. Hậu quả: Đỗ Đăng H tử vong.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông được pháp luật bảo vê ̣, làm ảnh hưởng xấu đến an toàn công cộng, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiê ̣m hình sự, nhận thức được không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ khi tham gia giao thông là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã không chấp hành quy định, dẫn đến hậu quả bị hại anh Đỗ Đăng H tử vong. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy Bản cáo trạng số 16/CT-VKSKV4, ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 4 – Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Văn H theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông và lỗi của các bên là do bị cáo Triệu Văn H điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về tốc độ, vi phạm khoản 2; điểm b, c, e khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Đỗ Đăng H nằm trên đường, trong máu có nồng độ cồn 292mg/100ml đã vi phạm khoản 4 Điều 3 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Xác định lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp.

Khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử còn xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyê ̣n bồi thường toàn bộ thiê ̣t hại cho gia đình bị hại anh Đỗ Đăng H; đại diện gia đình bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mặt khác vụ việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo Triệu Văn H có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo và không thuộc những trường hợp không được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà quyết định cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Việc cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, tính khoan hồng của pháp luật, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến việc phòng, chống tội phạm tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không đảm nhiệm chức vụ, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiê ̣m dân sự: bị cáo Triệu Văn H đã bồi thường thiê ̣t hại cho gia đình bị hại Đỗ Đăng H số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triê ̣u đồng). Xét thấy, viê ̣c bồi thường do các bên tự nguyê ̣n thỏa thuận, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Ngoài ra, không ai còn yêu cầu gì khác về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: đối với xe ô tô và giấy tờ xe của ông Trần Quang K đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E, số 200064200086 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/10/2024 cấp cho bị cáo Triệu Văn H xét thấy do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại cho bị cáo.

Cáo trạng số 16/CT-VKSKV4, ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 4 – Lạng Sơn truy tố bị cáo Triệu Văn H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, hình phạt, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ.

Đối với hành vi điều khiển xe không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, có phù hiệu nhưng đã hết giá giá trị sử dụng của bị cáo Triệu Văn H và chủ xe anh Trần Quang K đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo Triệu Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do các bên không yêu cầu giải quyết về bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293, các Điều 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Triệu Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26 tháng 12 năm 2025. Giao bị cáo Triệu Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm giữa bị cáo Triệu Văn H và gia đình bị hại anh Đỗ Đăng H, xác nhận bị cáo Triệu Văn H đã bồi thường xong cho gia đình bị hại anh Đỗ Đăng H tổng số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triê ̣u đồng).

4. Về xử lý vật chứng: trả lại bị cáo Triệu Văn H 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E, số 200064200086 mang tên Triệu Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/10/2024.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Lạng Sơn và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn ngày 28 tháng 11 năm 2025).

5. Về án phí: bị cáo Triệu Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ