- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L, Triệu Văn A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Triệu Văn A phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày 18-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quang Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngôn Thị Liêm.
Ông Hoàng Văn Dự.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Quang Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Hoàng Văn L (tên gọi khác: không), sinh ngày 13 tháng 10 năm 2000 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn D (đã chết) và bà Hoàng Thị P (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.
2. Triệu Văn A (tên gọi khác: không), sinh ngày 11 tháng 9 năm 1991 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn S, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- Ngày 04/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Lương Văn Đ, sinh năm 1991. Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
2. Lương Văn B, sinh năm 1962. Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
3. Chu Văn Q, sinh năm 1981. Trú tại: Xóm S, xã V, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 08/7/2025, tổ công tác Công an xã Đ, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng phát hiện Hoàng Văn L đang đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn về phạm tội ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của L đang mặc có 01 gói giấy vở học sinh có dòng kẻ ngang và 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong 02 gói giấy trên chứa chất bột màu trắng. L khai số chất bột màu trắng trên là ma túy, loại Heroine, vừa mua với Triệu Văn A, sinh năm 1991, trú tại xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ số vật chứng để điều tra, làm rõ.
Hồi 23 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tiến hành mở niêm phong cân xác định xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định vật chứng thu giữ của Hoàng Văn L. Kết quả 02 gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,11 gam.
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 09/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Triệu Văn A phát hiện, tạm giữ 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 02 túi ni lông trong suốt, dạng túi zip, bên trong có chất bám dính màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3X; số tiền 900.000 đồng.
Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tiến hành mở niêm phong cân xác định xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định vật chứng thu giữ của Triệu Văn A. Kết quả 01 gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,10 gam.
Tại Kết luận giám định số 332/KL-KTHS ngày 16/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Hoàng Văn L, Triệu Văn A đều là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra Hoàng Văn L khai nhận: L nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 08/7/2025, L đi bộ từ nhà đến xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, đi đến gần nhà Triệu Văn A, gặp A đang đứng cạnh đường, L hỏi mua ma túy với A với số tiền 500.000 đồng, A đồng ý. Sau khi mua được ma túy, L chia ma túy thành 02 gói nhỏ, rồi đi bộ lên chỗ bụi tre ngay trên làng để sử dụng ma túy, chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Triệu Văn A khai nhận: Số ma túy A bị thu giữ là do A mua với một người đàn ông không quen biết tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang với số tiền 2.000.000 đồng. Mục đích mua về để sử dụng và bán kiếm lời. A được bán ma túy cho những người sau:
Bán ma túy cho L 01 lần, 01 gói 500.000 đồng vào tối ngày 08/7/2025 tại nhà của A, hình thức giao dịch L đến gặp trực tiếp A hỏi mua ma túy.
Bán ma túy cho Lương Văn Đ 02 lần, mỗi lần 01 gói 500.000 đồng, hình thức giao dịch Đ đến nhà A hỏi mua trực tiếp. Lần đầu bị cáo không nhớ chính xác thời gian; lần hai vào khoảng 12 giờ trưa ngày 07/7/2025.
Bán cho Lương Văn B, sinh năm 1962 là người cùng xóm 02 lần. Lần đầu khoảng 10 giờ ngày 07/7/2025, A bán cho B 01 gói 500.000 đồng, địa điểm cạnh đường cách nhà A 100 m; lần hai khoảng 12 giờ ngày 09/7/2025, A bán cho B 01 gói 800.000 đồng. Cả 02 lần, B đều đến gặp A để mua ma túy.
Bán cho Chu Văn Q 02 lần, mỗi lần 01 gói 500.000 đồng, cả 02 lần Q đều gọi điện trước cho A hỏi mua ma túy, địa điểm giao dịch gần nhà của A. Lần đầu vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/7/2025; lần hai vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/7/2025.
Số tiền 900.000 đồng bị thu giữ là tiền bị cáo bán ma túy có được.
Vật chứng của vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng ban hành Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự Triệu Văn A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251; truy cứu Hoàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSKV3 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Triệu Văn A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Hoàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Triệu Văn A, Hoàng Văn L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận nội dung bản cáo trạng phản ánh đúng hành vi các bị cáo thực hiện. Mục đích bị cáo Triệu Văn A mua ma túy về để sử dụng và để bán kiếm lời; bị cáo Hoàng Văn L mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Triệu Văn A từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3x thu giữ của bị cáo Triệu Văn A.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định, vật chứng không có giá trị sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 900.000 đồng, truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.900.000 đồng bị cáo Triệu Văn A được hưởng lợi từ hành vi phạm tội.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai các bị cáo Triệu Văn A, Hoàng Văn L tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét chỗ ở của Triệu Văn A, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng, như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 08/7/2025, tại khu vực xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác Công an xã Đ, tỉnh Cao Bằng đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam ma túy, loại Heronine để sử dụng cho bản thân. Số ma túy này L mua với Triệu Văn A. Tiến hành khám xét nơi ở của Triệu Văn A, Cơ quan điều tra thu giữ được 0,10 gam ma túy, loại Heroine An để sử dụng và bán kiếm lời. Triệu Văn A đã bán 07 lần cho 04 người, thu được số tiền 3.800.000 đồng.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn L là nghiêm trọng; bị cáo Triệu Văn A là rất nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Triệu Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về nhân thân:
Bị cáo Hoàng Văn L là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo Triệu Văn A có nhân thân xấu: Ngày 04/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên cần được chấp nhận.
. Hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy bản thân các bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Việc xử lý vật chứng: Xét đề nghị xử lý vật chứng của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật cần được chấp nhận.
- Vật chứng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm, vật chứng không có giá trị thì tịch thu, tiêu hủy.
- Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại của bị cáo Triệu Văn A sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội .
- Tịch thu, truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo Triệu Văn A được hưởng lợi từ hành vi phạm tội.
. Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo bị bắt: Khi bị bắt bị cáo A khai nhận mua ma túy với người đàn ông không quen biết tại Bắc Giang. Quá trình điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho bị cáo là ai. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Lương Văn Đ, Lương Văn B, Chu Văn Q hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an xã Đ đã xử phạt vị phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là có căn cứ.
. Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Triệu Văn A phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Văn L 03 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 08/7/2025
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Triệu Văn A 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 09/7/2025
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: 01 mảnh giấy vở học sinh có dòng kẻ ngang, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, vỏ phòng bì niêm phong ban đầu thu giữ đối với Hoàng Văn L ngày 08/7/2025.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng 02 túi ni lông trong suốt (dạng túi zip, 01 mảnh giấy bạc màu vàng) vụ Triệu Văn A - Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại xóm Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: số 332/KL-KTHS hoàn mẫu vụ Hoàng Văn L, Triệu Văn A xảy ra tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
- Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3x màu đen (ánh tím), màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, IMEI 1: 863929075854873; IMEI 2: 863929075854865.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 900.000 đồng thu giữ của Triệu Văn A. Hiện tại số tiền này đã được nộp vào tài khoản 3949.0.1054207.00000 tại Kho bạc Nhà nước khu vực V – Phòng nghiệp vụ 2.
- Truy thu sung quỹ Nhà nước 2.900.000 đồng tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có của Triệu Văn A.
Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 06 ngày 24 tháng 10 năm 2025.
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Văn A, Hoàng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người 200.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo Triệu Văn A, Hoàng Văn L có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - CQ CSĐTCA tỉnh Cao Bằng; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Cao Bằng; - PC 10 CA tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 3 - Cao Bằng; - Phân trại tạm giam Trùng Khánh; - Phòng THADSKV3 - Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Quang Toàn |