vanban.org

Bản án 52/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
C HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2025
V/v: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi
con chung và cấp dưỡng nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Xuân Hiền

2. Ông Lê Văn Thừa

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

- Bị đơn: Ông Mai Hoàng K, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phần trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Do mai mối, bà và ông K tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức đám cưới năm 2018. Ngày 26/11/2019, bà và ông K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống có một người con chung là Mai Hoàng K1 (nam), sinh ngày 12/10/2019.

Ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau xảy ra mâu thuẫn. Tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông K chỉ lo ăn chơi, không lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Nhiều lần bà tâm sự khuyên ngăn nhưng ông K không nghe và dùng những lời lẻ thô tục chửi bà rất thậm tệ, có khi ông K còn có những lời lẻ xúc phạm đến cha mẹ bà. Mâu thuẫn ngày càng nhiều nên không còn sống chung với nhau từ ngày 26/11/2023 cho đến nay. Nay, cảm thấy không còn chung sống được với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà và ông K có một người con chung là Mai Hoàng K1 (nam), sinh ngày 12/10/2019. Sau khi ly hôn bà xin giành quyền trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía ông Mai Hoàng K đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập nhưng ông không đến Tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có thay đổi quan điểm không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, giữ nguyên quan điểm yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn với bị đơn. Sau khi ly hôn nguyên đơn xin giành quyền trực tiếp nuôi hai người con chung. Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị M và ông Mai Hoàng K có đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Mai Hoàng K có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Mai Hoàng K vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn do ông K chỉ lo ăn chơi, không lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Nhiều lần bà M tâm sự khuyên ngăn nhưng ông K không nghe và dùng những lời lẻ thô tục chửi bà M rất thậm tệ, có khi ông K còn có những lời lẻ xúc phạm đến cha mẹ bà M. Mâu thuẫn ngày càng nhiều nên không còn sống chung với nhau từ ngày 26/11/2023 cho đến nay.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Nguyên đơn bà M trình bày đã cho bị đơn ông K nhiều cơ hội nhưng ông K không thay đổi, ông bà đã không sống chung với nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng không thể vận động đoàn tụ do ông bà không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên bà M yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông bà có một người con chung như đã trình bày như trên. Bà M xin giành quyền trực tiếp nuôi con chung. Từ nhỏ bà M đã chăm sóc cháu K1 và cho đi học ổn định. Hội đồng xét xử thiết nghĩ, cần tiếp tục giao cháu K1 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của các cháu về thể chất và tinh thần. Bà M tại phiên tòa, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn ông K được quyền thăm nom, giáo dục con chung và không ai được quyền cản trở bị đơn thực hiện quyền này.

[3] Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên không xem xét giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Mai Hoàng K.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Mai Hoàng K.

Về con chung: Giao con chung Mai Hoàng K1 (nam), sinh ngày 12/10/2019 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông K không ai được quyền ngăn cản ông thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo biên lai thu số 0005354 ngày 24/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành tiền án phí. Bà M đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ