- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án DSST giữa Ngân hàng NN - Đinh Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn chị Đinh Thị Thu H
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2025/DS-ST Ngày: 27-9-2025 V/v tranh chấp: hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hạnh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Hòa; 2. Ông Phạm Thành Đô;
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Thủy – Kiểm sát viên Trong ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 134/2025/TLST – DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2025/QĐXXST - DS, ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N Địa chỉ: số 2, Láng H, phường Thành C, quận Ba Đ, Thành phố Hà Nội (nay là số 2, phường Giảng V, TP. Hà Nội) Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn Đ – phó giám đốc Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam - chi nhánh Bù Đăng (Theo quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 và giấy ủy quyền số 15/UQ-NHNoBĐ lập ngày 08/5/2025) Địa chỉ công tác: khu Đức L, TT Đức Ph, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Đức Ph, xã Bù Đ, tỉnh Đồng Nai) 2. Bị đơn: chị Đinh Thị Thu H, sinh năm: 2005 Nơi cư trú: thôn Sơn H, xã Thọ S, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Sơn H, xã Thọ S, tỉnh Đồng Nai) 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Thị Ng, sinh năm: 1982 Nơi cư trú: thôn Sơn H, xã Thọ S, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Sơn H, xã Thọ S, tỉnh Đồng Nai) (Nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08-5-2025 của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và trong quá trình xét xử đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N – Chi nhánh Bù Đăng Bình Ph và chị Đinh Thị Thu H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV-202307255. Theo đó, Ngân hàng cho chị Đinh Thị Thu H vay số tiền 250.000.000 đồng (Bằng chữ: hai trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng đến hết ngày 28/9/2024. Mục đích vay vốn để chăm sóc vườn điều xen cà phê. Lãi suất tại thời điểm kí hợp đồng tín dụng: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150%/năm. Lãi chậm trả: 10%/năm. Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất điều chỉnh. Bằng lãi suất tiết kiệm dân cư VND có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau là lãi suất cao nhất của Agribank chi nhánh tỉnh Bình Phước + (cộng) 4.5% được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần. Hạn trả nợ gốc: 06/10/2024. Định kỳ trả lãi: 6 tháng/lần kể từ ngày giải ngân.
Để đảm bảo khoản vay nói trên, chị Đinh Thị Thu H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 75, tờ bản đồ số 22, diện tích 6520,9m2, tại thôn Sơn H, xã Thọ S, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Sơn H, xã Thọ S, tỉnh Đồng Nai). Diện tích đất đã được cấp Giấy CNQSD đất ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AH 543866, số vào sổ cấp GCN: số H 02289 do UBND huyện Bù Đ cấp ngày 31/12/2007 cho bà Thị Ng theo Hợp đồng thế chấp số A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ. Giữa bà Thị Ng và chị Đinh Thị Thu H có ký kết hợp đồng ủy quyền ngày 26/9/2023 số công chứng 6799 tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ có nội dung bà Thị Ng ủy quyền cho chị Đinh Thị Thu H được toàn quyền thay mặt và nhân danh bà Thị Ng thế chấp toàn bộ phần diện tích đất quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nói trên tại các tổ chức tín dụng thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N.
Sau khi ký hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng ở trên phía ngân hàng đã giải ngân đúng như trong hợp đồng đã ký kết. Đến ngày tất toán hợp đồng thì chị Đinh Thị Thu H không trả như thỏa thuận. Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 30/9/2024. Ngân hàng chi nhánh Bù Đăng Bình Ph đã nhiều lần đôn đốc thu hồi nợ nhưng chị Đinh Thị Thu H không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Đinh Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc 250.000.000đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi thực hiện xong khoản vay theo hợp đồng tín dụng 5606-LAV-202307255 ngày 28/9/2023.
Trường hợp chị Đinh Thị Thu H không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp ghi nhận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 ngày 28/9/2023 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng.
- Ý kiến về giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 299, Điều 320, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bị đơn chị Đinh Thị Thu H trả cho nguyên Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N số tiền vay 250.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ.
Sau khi bị đơn chị Đinh Thị Thu H thanh toán xong nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N có trách nhiệm trả lại tài sản mà bị đơn chị Đinh Thị Thu H đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 ngày 28/9/2023.
Nếu bị đơn chị Đinh Thị Thu H không trả hoặc trả không đủ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp được ghi nhận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 ngày 28/9/2023 để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Trương Văn Đ (là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Chị Đinh Thị Thu H (là bị đơn) và bà Thị Ng (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Trương Văn Đông, chị Đinh Thị Thu H và bà Thị Ng.
Xét: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N khởi kiện chị Đinh Thị Thu H yêu cầu trả số tiền vay và tiền lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo như ghi nhận trong hợp đồng tín dụng thì chị Đinh Thị Thu H cư trú tại thôn Sơn H, xã Thọ S, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Sơn H, xã Thọ S, tỉnh Đồng Nai). Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định thẩm quyền giải quyết vụ án nói trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai).
Xét giao dịch giữa Ngân hàng và chị Đinh Thị Thu H được lập ngày 28 tháng 9 năm 2023. Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N yêu cầu chị Đinh Thị Thu H trả số tiền vay 250.000.000 đồng:
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N khai nhận ngày 28/9/2023 Ngân hàng và chị Đinh Thị Thu H ký kết Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV-202307255. Ngân hàng giải ngân cho chị Đinh Thị Thu H vay với số tiền là 250.000.000 đồng. Ngân hàng cung cấp cho Tòa án hợp đồng tín dụng (bút lục số 28 - 31), phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ (bút lục số 28) để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị Đinh Thị Thu H nhiều lần nhưng chị Đinh Thị Thu H vẫn vắng mặt xem như tự từ bỏ việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc chị Đinh Thị Thu H vay tiền của Ngân hàng là có thật.
Xét thấy, Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 17 Điều 4, điểm a khoản 3 Điều 107 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Trong hợp đồng tín dụng số 5606-LAV-202307255 ngày 28/9/2023 có ghi nhận “Thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày Agribank giải ngân đến hết ngày 28 tháng 9 năm 2024”. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Như vậy, thời hạn chị Đinh Thị Thu H phải trả tiền vay cho Ngân hàng chậm nhất là ngày 28/9/2024. Tuy nhiên, đến hạn chị Đinh Thị Thu H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do bên vay tài sản vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu chị Đinh Thị Thu H trả số tiền vay 250.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu trả tiền lãi: Ngân hàng yêu cầu chị Đinh Thị Thu H trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 29/9/2024 đến ngày 27/9/2025 (ngày xét xử) với số nợ lãi quá hạn là: 22.873.973 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 11.373.973 đồng. Tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận…. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”. Tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV-202307255 ngày 28/9/2023 có ghi nhận: “Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: 10%/ năm”. Xét, các bên tự nguyện thỏa thuận việc tính lãi tại hợp đồng tín dụng là không vi phạm điều cấm của pháp luật về giao dịch tín dụng. Do đó, có giá trị ràng buộc quyền, nghĩa vụ trả lãi của các bên. Mặt khác, lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với chị Đinh Thị Thu H là phù hợp với lãi suất đã được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng và chị Đinh Thị Thu H vi phạm nghĩa vụ trả lãi. Do đó, căn cứ vào khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả tiền lãi của Ngân hàng.
Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn: Giữa bà Thị Ng và chị Đinh Thị Thu H có ký kết hợp đồng ủy quyền ngày 26/9/2023 số công chứng 6799 tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ có nội dung bà Thị Ng ủy quyền cho chị Đinh Thị Thu H được toàn quyền thay mặt và nhân danh bà Thị Ng thế chấp toàn bộ phần diện tích đất quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nói trên tại các tổ chức tín dụng thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N. Khi ký kết hợp đồng tín dụng thì chị Đinh Thị Thu H có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 75, tờ bản đồ số 22, diện tích 6520,9m2, tại thôn Sơn H, xã Thọ S, huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước (nay là thôn Sơn H, xã Thọ S, tỉnh Đồng Nai). Diện tích đất đã được cấp Giấy CNQSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AH 543866, số vào sổ cấp GCN: số H 02289 do UBND huyện Bù Đăng cấp ngày 31/12/2007 cho bà Thị Ng. Ngân hàng và chị Đinh Thị Thu H có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 ngày 28/9/2023 tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đ. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Tại khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Do đó, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm khi chị Đinh Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Về các nội dung khác:
[7.1] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 1.500.000đ. Tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu xử lý tài sản của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Đinh Thị Thu H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ. Tại khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”. Do đó, cần buộc chị Đinh Thị Thu H hoàn trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 1.500.000 đồng cho Ngân hàng.
[7.2] Về án phí: Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016 quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.”. Do đó, bị đơn chị Đinh Thị Thu H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
[7.3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 293, Điều 299, Điều 320, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn chị Đinh Thị Thu H
Buộc bị đơn chị Đinh Thị Thu H trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N số tiền vay 250.000.000đ, tiền lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 27/9/2025 là 22.873.973 đồng, tiền lãi phạt là 11.373.973 đồng. Tổng cộng số tiền chị Đinh Thị Thu H phải trả là 284.247.946 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5606-LAV-202307255 ngày 28/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Sau khi bị đơn thanh toán xong nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N có trách nhiệm trả lại tài sản mà bị đơn đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023.
Nếu bị đơn không trả hoặc trả không đủ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp được ghi nhận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số A2023-070305003629/HĐTC ngày 28/9/2023, số công chứng 6847 tại Văn phòng công chứng Hà Văn Đức để thu hồi nợ.
2/ Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn chị Đinh Thị Thu H phải hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ là 1.500.000 đồng.
3/ Về án phí: Buộc bị đơn chị Đinh Thị Thu H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 14.212.397 đồng.
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N số tiền tạm ứng án phí là 6.712.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0009809 lập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4/ Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND t. Đồng Nai; - VKSND khu vực 12 – Đồng nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu HS – DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Phương Hạnh |