vanban.org

Bản án 52/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng C2 số tiền 85.

Kể từ ngày 26/8/2025, ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận ghi trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 03/11/2022 và Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 08/11/2022 cho đến khi th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng CS - Nguyễn Văn Nhẹ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng C2 số tiền 85.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DS-ST
Ngày 25-8-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Hiệp.

Bà Quách Thị Hải Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXX-DS ngày 15 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C2.

Địa chỉ trụ sở: Số A, phố L, phường H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng G, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ, là đại diện ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 167a/QĐ-NHCS ngày 31/5/2024 (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 19/5/1991 (có đơn xin vắng mặt).

Số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx ngày 14/5/2025.

Địa chỉ: ấp T, xã V, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Lâm Thị Cẩm T2, sinh ngày 16/10/1995 (vắng mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx ngày 13/4/2021.

Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.

2/ Bà Lâm Thị C, sinh ngày 01/01/1955 (vắng mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: ấp T, xã V, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 14/02/2025 và quá trình giải quyết, ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C2 (gọi tắt Ngân hàng) trình bày: Vào ngày 08/11/2022, Ngân hàng C2 - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn N đại diện hộ gia đình vay số tiền 75.000.000 đồng của chương trình cho vay hộ cận nghèo với lãi suất 7,92%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất khi vay, thời hạn vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 08/11/2027, lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng. Từ ngày nhận tiền đến ngày 08/02/2025, ông N chưa trả nợ gốc theo định kỳ 06 tháng/lần và đến nay đã quá hạn nợ gốc 04 kỳ với số tiền 30.000.000 đồng, chưa trả nợ lãi hàng tháng với số tiền 7.046.355 đồng. Ngân hàng yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị Cẩm T2 và bà Nguyễn Thị C1 phải trả dứt nợ cho Ngân hàng số tiền 82.046.355 đồng, gồm: Vốn vay 75.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 08/02/2025 là 7.046.355 đồng.

Tại đơn xin vắng mặt xét xử của ông Nguyễn Văn T1 ngày 22/8/2025 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tại bảng chiết tính lãi hộ Nguyễn Văn N và thẻ theo dõi giao dịch tiền vay đến ngày 25/8/2025 thể hiện hộ ông Nhẹ N1 vốn 75.000.000 đồng và nợ lãi 10.268.603 đồng.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai và biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ ngày 28/4/2025, ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông thừa nhận có vay của Ngân hàng C2 – phòng giao dịch huyện T tiền 75.000.000 đồng theo như yêu cầu. Đối với tiền lãi ông đã thực hiện trả lãi đến tháng 8/2024 thì ngưng do việc làm ăn thua lỗ, về nợ gốc ông không có trả theo phân kỳ và đến nay vẫn còn nợ gốc 75.000.000 đồng. Nay ông đồng ý trả nợ gốc và lãi nhưng xin được trả dần với hình thức 06 (sáu) tháng trả 20.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Cá nhân ông chịu trách nhiệm trả tiền vay và lãi cho Ngân hàng C2, không yêu cầu bà C1 và bà T2 phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc trả nợ vay và lãi cho Ngân hàng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 vắng mặt, quá trình giải quyết không có văn bản trình bày ý kiến.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung ông N thừa nhận có vay của Ngân hàng C2 số tiền 75.000.000 đồng và chưa trả vốn, lãi. Khi vay tiền thành viên hộ là bà Lâm Thị C, bà Lâm Thị Cẩm T2 có văn bản ủy quyền cho ông N đại diện hộ thực hiện việc vay vốn nên khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Nguyễn Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị C, bà Lâm Thị Cẩm T2 liên đới hoàn trả cho Ngân hàng C2 số tiền nợ gốc 75.000.000 đồng, lãi 10.268.603 đồng và phải chịu tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận giữa các bên tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay. Đồng thời buộc bị đơn ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về tiền vay và lãi đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nay là ấp T, xã V, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ thụ lý, xét xử sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, đại diện nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung: Ngân hàng C2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 hoàn trả tiền vay, lãi tính đến ngày 25/8/2025 là 85.268.603 đồng, trong đó nợ vốn 75.000.000 đồng và nợ lãi 10.268.603 đồng. Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn giao nộp bản sao 01 Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – Thu nợ - Dư nợ ngày 08/11/2022; 01 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của Nguyễn Văn N, lập ngày 03/11/2022 và 01 Giấy ủy quyền của Nguyễn Văn N, Lâm Thị Cẩm T2 và Lâm Thị C lập ngày 03/11/2022. Trong đó, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 03/11/2022, thể hiện số tiền vay 75.000.000 đồng, lãi suất cho vay 7,92%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất khi vay, thời hạn vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 08/11/2027, lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng. Ông Nguyễn Văn N thừa nhận việc vay tiền và chưa trả vốn, lãi. Đối với bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 có xác lập văn bản ủy quyền ngày 03/11/2022 cử ông Nguyễn Văn N đại diện theo ủy quyền cho các bà thực hiện đứng tên vay và thực hiện các giao dịch với Ngân hàng C2. Vì vậy, căn cứ thỏa thuận và cam kết tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 03/11/2022, ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 chưa hoàn trả tiền vốn vay và lãi đúng theo thỏa thuận là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù món vay chưa đến hạn, theo quy định tại điểm c mục 2.1. đoạn 2 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tại Sổ vay vốn số 7065191012 thì Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 chịu trách nhiệm trả toàn bộ vốn vay và lãi là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng C2 số tiền 85.268.603 đồng (tám mươi lăm triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm lẽ ba đồng), trong đó nợ vốn 75.000.000 đồng và nợ lãi 10.268.603 đồng.

2. Kể từ ngày 26/8/2025, ông Nguyễn Văn N, bà Lâm Thị C và bà Lâm Thị Cẩm T2 còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận ghi trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 03/11/2022 và Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 08/11/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.263.430 đồng (bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, bốn trăm ba mươi đồng). Nguyên đơn Ngân hàng C2 không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ