- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Thị O - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 29-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Giàng A Gông và ông Tẩn A Dén
- Thư ký phiên tòa: ông Thào A Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 18/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Quàng Thị O- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh năm 1957 tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/10; con ông Quàng Văn B (đã chết); Con bà Lường Thị N (đã chết); chồng là Lò Văn K (đã chết); Bị cáo có 06 con; Tiền án: không, Tiền sự: không. Chức vụ: không; Nhân thân: năm 2006 phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy bị xử phạt 24 tháng tù tại bản án số 54/2006/HS-PT ngày 26/4/2006 của TAND tỉnh Điện Biên, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích; ngày 18/01/2023 tàng trữ trái phép chất ma tuý bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đã thi hành xong quyết định xử phạt hành chính ngày 18/01/2023 và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024, tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 05/3/2024 bị cáo Quàng Thị O đi bộ ở khu vực tổ dân phố Q, thị trấn T thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ tại đoạn đường phía dưới nhà ở của bị cáo, qua trao đổi bị cáo mua được của người này 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 100.000 đồng, sau khi mua được gói ma túy bị cáo cho vào chiếc túi vải dạng ví và đi về nhà. Đến khoảng hơn 17 giờ ngày 06/3/2024 khi bị cáo đang đeo chiếc túi vải đựng gói ma túy trước bụng tại nhà bị cáo thì tổ công tác Công an huyện phát hiện và thu giữ gói ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong có cục chất bột màu trắng; 01 chiếc túi vải có hoa văn.
Hồi 20 giờ 25 phút ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định: cục chất bột màu trắng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 0,2753 gam.
Kết luận giám định số 539/KL-PC09 ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,2753 gam là chất ma túy: loại Heroin (Heroine). Hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,23 gam được cho vào túi nilon màu trắng và niêm phong trong phong bì.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng.
Cáo trạng số 26/CT-VKSHTC ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Quàng Thị O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, 01 chiếc túi vải, các vỏ niêm phong, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận ngày 05/3/2024 bị cáo mua được 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng với mục đích để sử dụng, đến ngày 06/3/2024 khi bị cáo đang cất giấu trái phép chất ma túy trong người đã bị Công an phát hiện bắt quả tang. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận, ngày 05/3/2024 bị cáo đã một mình mua được 01 gói Heroine có khối lượng 0,2753 gam với mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi cố ý mua và cất giấu trái phép 0,2753 gam Heroine của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: năm 2006 bị cáo phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy bị TAND huyện T xử phạt 24 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích; ngày 18/01/2023 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và phạt tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đã thi hành xong ngày 18/01/2023 và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, do đó xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo hiện nay tuổi đã cao, sức khỏe không tốt để cân nhắc khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. [4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về các vấn đề có liên quan: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. [6] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại có khối lượng 0,23 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, 01 chiếc túi vải là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. [7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự 1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị O phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Quàng Thị O 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại có khối lượng 0,23 gam Heroine; 01 chiếc túi vải và toàn bộ bao bì niêm phong.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo. 5. Kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/7/2024).
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T; - Cơ quan CSĐT- CA huyện T; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Anh Tuấn |