- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn G bị truy tố tôi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 23-12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Thanh Phong
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 23 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn G, Ngày tháng năm sinh: 25/6/2006 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp HH, xã NC, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Phạm Văn T và bà Quách Kim N; vợ, con: Không; anh, chị em ruột: 01 người; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Dương Minh P, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Ấp HH, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
2. Anh Đoàn Gia H, sinh ngày 19/5/2009; địa chỉ: Ấp TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của anh Đoàn Gia H:
1. Ông Đoàn Thanh U; địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
2. Bà Cao Hồng Kiều, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Quách Kim N, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Ấp HH, xã NC, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
2. Ông Phạm Văn Tèo, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp HH, xã NC, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
3. Ông Đoàn Thanh Chơn, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Ấp BS, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 23/5/2024, bị cáo Phạm Văn G điều khiển xe mô tô hiệu Wave RS biển số 69F1-132.04 chở anh Đoàn Gia H; anh Nguyễn Minh K điều khiển xe mô tô hiệu Sirius 50CC biển số 69AE-036.06 đi một mình, cả ba xuất phát đi từ ấp TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau đến thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu để chơi.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo Giàu, anh H và anh K quay trở về huyện Đầm Dơi. Khi qua khỏi cầu Chung Kiết trên đoạn lộ Đông Tây hướng từ trung tâm xã Tân Thuận về huyện Đầm Dơi thuộc ấp HH, xã TT, huyện ĐD; Giàu điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng hơn 60km/h, đi gần sát vào lề đường bên phải, còn K điều khiển xe mô tô đi ở giữa lộ, hai phương tiện chạy song song nhau. Do không chú ý quan sát nên khi bị cáo G thấy xe mô tô biển số 65P5-9577 do ông Dương Minh P điều khiển đang đậu sát lề đường bên phải, cùng hướng di chuyển của G để ngồi nghe điện thoại. Lúc này, G không tránh kịp nên dẫn đến phần đầu xe mô tô do bị cáo G điều khiển đâm vào phần sau xe mô tô của ông P, làm ông P văng ra khỏi xe bị nhiều thương tích. Sau đó, bị cáo G bẻ lái sang trái làm xe mô tô lật ngang rồi trượt dài trên lộ, bị cáo G và anh H đều ngã xuống đường bị nhiều thương tích.
Kết quả khám nghiệm hiện trường lúc 21 giờ 30 phút ngày 23/5/2024 thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn được xác định thuộc tuyến lộ từ huyện Đầm Dơi về trung tâm xã Tân Thuận. Vị trí xảy ra tai nạn tại đoạn đường qua phần đất của ông Ngô Dũng T tọa lạc tại ấp Hoà Hải, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi được trải nhựa, có độ rộng 7m, hai bên đường có cọc tiêu, vạch kẻ đường cách lề 3.5m màu vàng, loại đứt nét, dạng đơn.
Cách mốc chính (nhà ông Nguyễn Văn T) 79.2m về hướng tây, tiếp giáp lề phải là vị trí xe mô tô biển số 65P5-9577 (ký hiệu số 1), đầu xe về hướng bắc, đuôi xe về hướng nam, trục trước xe cách lề phải 0.45m, trục sau xe cách lề phải 0.7m. Cách trục sau xe (kí hiệu số 1) 23.10m về hướng tây là vị trí xe mô tô biển số 69F1-132.04 (kí hiệu số 2), đầu xe quay về hướng bắc, đuôi xe về hướng nam, trục trước cách lề phải 2.3m, trục sau cách lề phải 3.35m. Cách trục sau xe (kí hiệu số 1) 1m về hướng đông, cách lề phải lần lượt là 0.83m và 0.63m là vị trí dấu vết bong tróc trên mặt đường nhựa, dạng đường thẳng nghi là dấu vết cày (kí hiệu số 3) có kích thước 0.55m. Cách trục sau xe (kí hiệu số 1) 1.6m về hướng nam, cách lề phải 2m về hướng nam, cách trục trước xe (kí hiệu số 2) 3.25m, cách trục sau xe (kí hiệu số 2) 3.40m, cách lề phải 3.29m về hướng nam là vị trí dấu vết bong tróc trên mặt đường nhựa, dạng đứt quãng, có kích thước 24m, nghi là dấu vết cày (kí hiệu số 4). Cách trụ sau xe (kí hiệu số 1) 2.5m về hướng đông tại vị trí lề phải là vị trí vùng dấu vết màu đỏ dạng hình tròn, đường kính 1m, nghi là máu (kí hiệu số 5).
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện lúc 16 giờ 10 phút ngày 04/6/2024 đối với xe mô tô biển số 65P5-9577 thể hiện:
- Dấu vết phương tiện:
+ Đèn báo hãm bị vỡ, kích thước 40cm x 30cm, định vị 82cm.
+ Chắn bùn sau không có.
+ Để chân sau bên trái bị cong, biến dạng về sau, kích thước 13cm x 10cm, định vị 27cm.
+ Để chân trước bên trái bị cong, biến dạng về trước, kích thước 16cm x 06cm, định vị 20cm.
+ Cánh yếm bên trái bị vỡ, biến dạng, kích thước 20cm x 15cm, định vị 80cm.
+ Ốp nhựa thân xe bên trái bị vỡ, kích thước 40cm x 17cm, định vị 85cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện:
+ Còi, phanh trước, sau bình thường.
+ Động cơ đề không nổ máy.
+ Có gương chiếu hậu trái, phải.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện lúc 15 giờ ngày 04/6/2024 đối với xe mô tô biển số 69F1-132.04 thể hiện:
- Dấu vết phương tiện:
+ Nắp ốp nhựa trên đầu xe bị vỡ, trầy xước, kích thước 15cm x 10cm, màu trắng đen, định vị với mặt đất 97cm.
+ Đèn chiếu sáng gần, xa có vết trược xước, kích thước 04cm x 06cm, màu trắng, định vị 97cm.
+ Không có mặt nạ xe.
+ Không có cung trước, chắn bùn trước.
+ Không có cánh yếm bên phải.
+ Cần phanh biến dạng, cong về sau, kích thước 15cm x 20cm, màu nâu, định vị 19cm.
+ Bộ phận giảm thanh bị biến dạng, kích thước 70cm x 15cm, định vị 25cm.
+ Để chân trước bên phải biến dạng, cong về sau, kích thước 10cm x 20cm, màu đen nâu, định vị 24cm.
+ Để chân sau bên trái bị cong biến dạng, trầy xước 13cm x 05cm, màu đen, định vị 15cm.
+ Để chân trước bên trái cong biến dạng, trầy xước, kích thước 10cm x 05cm, định vị 27cm.
+ Không có cánh yếm bên trái.
+ Giảm sốc trước bị cong, biến dạng, kích thước 45cm x 05cm, định vị 67cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện:
+ Hệ thống đèn, còi, phanh trước, sau, động cơ tại thời điểm khám nghiệm không còn hoạt động.
+ Không gương chiếu hậu trái, phải.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164/KLTTCT-TTPY ngày 06/8/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau đối với ông Dương Minh P, kết luận:
- 01 vết sẹo môi trên bên phải kích thước 1.4cm x 0.3cm: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sạm da cánh mũi trái kích thước 1.5cm x 0.3cm: 0.5%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng thay đổi sắc tố da má trái kích thước 03cm x 1.5cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng thay đổi sắc tố da cằm bên phải kích thước 3.5cm x 02cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng thay đổi sắc tố da 1/3 trên mặt ngoài đùi trái kích thước 10cm x 03cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 03 vết phẫu thuật đặt khung cố định ngoài vùng cẳng chân trái:
+ Kích thước 1: 01cm x 01cm: 01%.
+ Kích thước 2: 01cm x 01cm: 01%.
+ Kích thước 3: 01cm x 01cm: 01%.
- 02 vết phẫu thuật đặt khung cố định ngoài bàn chân trái:
+ Kích thước 1: 01cm x 01cm: 01%.
+ Kích thước 2: 01cm x 01cm: 01%.
- 01 vết phẫu thuật từ 1/3 giữa đến 1/3 dưới mặt trong cẳng chân trái kích thước 07cm x 1.5cm: 03%.
- 01 mảng sẹo mất da 1/3 dưới mặt ngoài cẳng chân trái kích thước 18cm x 10cm: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng sẹo mất da 1/3 dưới mặt trong cẳng chân trái kích thước 6.5cm x 05cm: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo gót chân trái kích thước 5.5cm x 02cm: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo 1/3 dưới mặt trước cẳng chân trái kích thước 5.5cm x 0.5cm: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo 1/3 dưới mặt sau cẳng chân trái kích thước 4.5cm x 0.5cm: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng sẹo lấy da ghép 1/3 trên mặt ngoài đùi phải kích thước 14.5cm x 07cm: 03%.
- 01 vết sẹo khoeo chân trái kích thước 04cm x 02cm: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có tiếp xúc rộng gây ra.
- Gãy xương sườn số 9 bên trái: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có tiếp xúc rộng gây ra.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 29%.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 219/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau đối với ông Dương Minh P, kết luận:
- 01 vết sẹo phẫu thuật mặt trước gối trái kích thước 3.5cm x 0.1cm: 01%.
- 01 vết sẹo phẫu thuật 1/3 mặt ngoài cẳng chân trái kích thước 1.5cm x 0.1cm: 01%.
- 01 vết sẹo phẫu thuật 1/3 mặt trong cẳng chân trái kích thước 1.5cm x 0.1cm: 01%.
- 01 vết sẹo phẫu thuật 1/3 dưới mặt trước ngoài cẳng chân trái kích thước 10cm x 0.1cm: 02%.
- 02 vết sẹo 1/3 dưới mặt trong cẳng chân trái:
+ Kích thước (1) 1.5cm x 0.1cm: 01%.
+ Kích thước (2) 1.5cm x 0.1cm: 01%.
- Gãy 1/3 dưới hai xương cẳng chân cal xấu, ngắn chi 1.5cm: 25%.
- Tổn thương hoàn toàn nhánh thần kinh mác chân trái: 07%.
- Vùng cổ chân trái phù nề nhiều khó xác định tổn thương dây thần kinh chày: Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ.
- Đứt bó mạch chày trước đã khâu nối ổn định: 04%.
- Đứt nhổ điểm bám gân gót, đứt gân chày trước, đứt gân gấp các ngón bàn chân trái đã khâu nối còn hạn chế gấp, duỗi: 15%.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 47%.
Tổng hai lần giám định tại Bản kết luận số 164/KLTTCT-TTPY và Bản kết luận giám định bổ sung số 219/KLTTCT-TTPY là 63%.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 185/KLTTCT-TTPY ngày 06/8/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau đối với anh Đoàn Gia H, kết luận:
- 01 vết sẹo kẽ ngón II, III mu bàn tay phải kích thước 01cm x 0,2cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 03 vết sẹo mặt trước gối phải dạng hình tròn kích thước từng vết:
+ Kích thước 1: 0.7cm x 0.5cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
+ Kích thước 2: 0.7cm x 0.5cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
+ Kích thước 3: 0.5cm x 0.5cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 mảng sẹo mặt 1/3 trên cẳng chân phải kích thước 08cm x 04cm: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo mặt trong bàn chân trái kích thước 04cm x 02cm: 01%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo mặt trong khớp bàn ngón I chân trái kích thước 02cm x 02cm: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- 01 vết sẹo phẫu thuật từ 1/3 trên đến 1/3 dưới mặt ngoài đùi phải kích thước 24.5cm x 0.5cm: 02%.
- 01 vết sẹo dẫn lưu 1/3 giữa mặt sau ngoài đùi phải kích thước 1.5cm x 0.5cm: 01%.
- Gãy 1/3 giữa xương đùi phải tạo cal: 21%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- Gãy 1/3 dưới xương quay phải có tạo cal: 10%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- Đứt bán phần gân bánh chè đã khâu nối phục hồi tốt: 06%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
- Rách màng xương chày, mài mất 01 phần lồi củ chày: 03%. Do vật tày, vật tày có cạnh hoặt vật tày có diện tiếp xúc rộng gây ra.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 44%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đầm Dơi đối với xe mô tô nhãn hiệu Angel biển số 65P5-9577, kết luận:
- Đèn báo hãm có giá trị 117.333 đồng.
- Chắn bùn sau có giá trị 144.333 đồng.
- Để chân sau bên trái có giá trị 72.000 đồng.
- Để chân trước bên trái có giá trị 58.000 đồng.
- Cánh yếm bên trái có giá trị 122.000 đồng.
- Ốp nhựa thân xe bên trái có giá trị 222.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 735.666 đồng.
Tại Công văn số 2191/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 13/9/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau, xác nhận: Không có cấp giấy phép lái xe nào cho bị cáo Phạm Văn Giàu.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển số 69F1-132.04;
- 01 xe mô tô hiệu Angel, màu đen xanh, biển số 65P5-9577.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Angel, màu đen xanh, biển số 65P5-9577 đã giao trả lại cho ông Dương Minh P; đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển số 69F1-132.04 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tạm giữ, quản lý theo quy định.
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Phạm Văn G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ông Dương Minh P trình bày: Ông yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Phía ông P yêu cầu phía bị cáo G bồi thường tổng số tiền 192.889.682đ, cụ thể: Tiền thuê xe cấp cứu 2.500.000đ, tiền thuê xe đi giám định, tái khám 16.000.000đ, tiền thuê nhà trọ 2.200.000đ, tiền điện nước 510.000đ, tiền thuộc điều trị ngoài trú tại bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Cần Thơ 1.055.000đ, tiền giám định 731.000đ, tiền sửa điện thoại 650.000đ, tiền sửa xe 7.825.000đ, tiền tái khám 9.000.000đ, tiền điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ 27.680.205đ, tiền điều trị tại bệnh viện đại học Nam Cần Thơ 15.047.937đ, tiền điều trị tại phòng khám chấn thương chỉnh hình 26.290.540đ, tiền mất thu nhập của hai người trong thời gian điều trị 60.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 23.400.000đ. Phía bị cáo đã bồi thường 27.000.000đ nên còn phải bồi thường số tiền 165.889.682đ.
Bị cáo, ông T và bà N đồng ý bồi thường cho ông Phú số tiền 165.889.682đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo G từ 02 năm tù đến 02 năm 6 tháng tù. Về vật chứng: Trả lại cho bà Ngơi 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển số 69F1-132.04. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo, ông T, bà N liên đới bồi thường cho ông P số tiền 165.889.682đ. Về án phí: Bị cáo, ông T, bà N phải chịu theo quy định của pháp luật
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về việc xét xử vắng mặt: Anh Đoàn Gia H, bà Cao Hồng K có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Đoàn Thanh U đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử vắng mặt anh H, bà H và ông U là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự:
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo G thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời trình bày của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 23/5/2024, bị cáo Phạm Văn G điều khiển xe mô tô biển số 69F1-132.04 khi không có giấy phép lái xe lưu thông trên đoạn lộ Đông Tây thuộc ấp Hoà Hải, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi gây tai nạn làm ông Dương Minh P bị thương tích 63% và anh Đoàn Gia H bị thương tích 44%.
Theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a, Không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Do đó, Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 04/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ mà con xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại, bị cáo đã hiện hành vi với lỗi vô ý. Trước, trong và sau khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Xét thấy, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” có chiều hướng ngày càng gia tăng gây hậu quả rất nặng nề không chỉ cho xã hội mà còn cho chính người gây tai nạn. Nên việc bị cáo yêu cầu được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận mà cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại 27.000.000đ, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và sự việc xảy ra có một phần của bị hại P. Tại phiên Tòa, phía bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại P và bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự như đã nêu trên và không có tiền án, tiền sự. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi.
Về xử lý vật chứng:
01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển số 69F1-132.04 là tài sản của bà Quách Kim N, bà không biết bị cáo sử dụng để phạm tội. Nhưng cần giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành trách nhiệm dân sự.
- 01 xe mô tô hiệu Angel, màu đen xanh, biển số 65P5-9577 đã trả lại cho bị hại T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Phía bị hại H không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.
Bị cáo G, ông T và bà N thống nhất liên đới bồi thường cho bị hại P số tiền 165.889.682đ được bị hại P đồng ý. Xét thấy, thỏa thuận trên giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
Ông Đoàn Thanh C không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 27.000.000đ ông đã cho mượn nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo, ông T và bà N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Văn G, ông Phạm Văn T và bà Quách Kim N liên đới bồi thường cho ông Dương Minh P số tiền 165.889.682đ (một trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển số 69F1-132.04 của bà Quách Kim N để đảm bảo cho việc thi hành trách nhiệm dân sự.
3. Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn G, ông Phạm Văn T và bà Quách Kim N phải chịu 8.294.000đ (tám triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại Phú, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Huy, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Quốc Trạng |