- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị T - Ông Thạch Q"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 5 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công.
2. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 951/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đƣơng sự:
1) Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1984; nơi thƣờng trú: Xóm D, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; tạm trú: D4/42, Tổ G, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2) Bị đơn: Ông Thạch Q, sinh năm 1985; nơi đăng ký thƣờng trú: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: D4/42, Tổ G, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Bà Trần Thị T và ông Thạch Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 65/2018 ngày 22/6/2018.
Quá trình chung sống của vợ chồng bà Trần Thị T thời gian đầu hạnh phúc, có 01 ngƣời con chung tên: Thạch L, sinh ngày 14/3/2018.
Từ năm 2021, bà T và ông Q bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, ông Q có dùng bạo lực với bà T, không chia sẻ các vấn đề phát sinh trong cuộc sống, không tôn trọng và không lo làm ăn phụ giúp kinh tế cùng bà T. Từ đầu năm 2024 đến nay bà T và ông Q sống ly thân, không có biện pháp gì hòa giải hàn gắn tình cảm, ông Q cũng không gọi điện, nhắn tin, không hỏi thăm về con, không gửi tiền phụ bà T nuôi con.
Bà T xác định đời sống chung với ông Thạch Q không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Thạch Q.
Về con chung: Bà T yêu cầu đƣợc trực tiếp, nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Thạch Q cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc bận và ở xa nên bà Trần Thị T yêu cầu đƣợc xét xử vắng mặt.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Thạch Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thƣ ký Tòa án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình tố tụng nhƣng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử nhƣ sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Thạch Q đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An tại Công an phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thể hiện bị đơn ông Thạch Q hiện đang sinh sống và có đăng ký tạm trú tại địa chỉ tạm trú: D4/42, Tổ G, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T và ông Thạch Q xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đƣợc Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 65/2018 ngày 22/6/2018 nên là hôn nhân hợp pháp.
Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Thạch Q với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thƣờng xuyên cãi nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Xét quan hệ hôn nhân giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm trong quan hệ vợ chồng thì ngƣời vợ và ngƣời chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhƣng quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị T và ông Thạch Q không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của bà Trần Thị T và ông Thạch Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc ly hôn với ông Thạch Q.
Về con chung: Bà Trần Thị T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung tên Thạch L, sinh ngày 14/3/2018. Xét con chung từ thời điểm ông Q và bà T sống riêng, cháu L vẫn chúng sống cùng và đƣợc bà T chăm sóc tốt. Quá trình tố tụng, ông Q đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không rõ lý do xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, bà Trần Thị T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Trần Thị T không yêu cầu ông Thạch Q phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T đối với ông Thạch Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T đƣợc ly hôn với ông Thạch Q.
- Về con chung: Giao con chung tên Thạch L, sinh ngày 14/3/2018 cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dƣỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị T không yêu cầu ông Thạch Q phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0013059 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Các đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |