- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim O.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-3-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm.
- Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1995. (Có mặt)
Địa chỉ: Số E khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1994. (Vắng mặt).
Địa chỉ: số G, khóm L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Kim O trình bày: bà và ông P thông qua quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2016, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn thì 02 vợ chồng đi thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân ở Công ty M. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng về thành phố L làm công nhân mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông P chơi cờ bạc thiếu nợ khoảng 40 triệu nên vợ chồng cự cãi, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Thời gian đó ông P có năn nỉ hàn gắn tình cảm vợ chồng và do phát hiện mang thai cháu D nên gia đình có khuyên bà tạo cơ hội để ông P sửa đổi và hàn gắn nên bà và ông P về tiếp tục chung sống với nhau và đi làm trả nợ cho ông P. Đến năm 2019 khi bà vừa sinh cháu N thì ông P tiếp tục cờ bạc và thiếu nợ người khác khoảng 30 triệu đồng, thời điểm này vợ chồng cũng cự cãi nhiều lần nên bỏ đi thành phố Hồ Chí Minh làm trả nợ. Năm 2023 sau khi trả hết nợ thì ông P mới về L làm nhưng đến cuối năm 2023 ông P lại tiếp tục nói là thiếu nợ người khác khoảng 20 triệu đồng do chơi tài xỉu, cá độ trên mạng. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không ổn định và không thể tiếp tục hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông P.
- Về con chung: có 02 con chung tên là Lê Trần Khả D1, sinh ngày 28/8/2019, Lê Trần Khả N1, sinh ngày 29/9/2020 hiện nay đang sống chung với bà O. Sau khi ly hôn, bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, hiện nay bà làm công nhân ở Công ty M1 mỗi tháng thu nhập 7.000.000 đồng – 9.000.000 đồng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn ông Lê Hữu P vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông P đối với yêu cầu khởi kiện của bà O.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Kim O yêu cầu ly hôn với ông Lê Hữu P. Ông P có nơi cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lê Hữu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông P.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: bà O và ông P xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc kéo dài nhiều năm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay. Bà O xác định không còn tình cảm với ông P, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà O xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông P, hôn nhân không hạnh phúc, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: có 02 con chung tên là Lê Trần Khả D1, sinh ngày 28/8/2019, Lê Trần Khả N1, sinh ngày 29/9/2020. Nhận thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay thì bà O là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và trong thời gian các cháu sống với mẹ đã ổn định về điều kiện sinh hoạt, chỗ ở và môi trường học tập. Mặt khác, cháu D1 và cháu N1 là con gái nên việc sống với mẹ sẽ thuận lợi hơn cho quá trình phát triển về thể chất và tinh thần của các cháu. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu D1, cháu N1 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Về cấp dưỡng nuôi con chung: do bà O không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà O trình bày không có nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: bà O phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim O.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim O được ly hôn ông Lê Hữu P.
- Về con chung: Bà Trần Thị Kim O được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung tên Lê Trần Khả D1, sinh ngày 28/8/2019, Lê Trần Khả N1, sinh ngày 29/9/2020.
Bà Trần Thị Kim O cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lê Hữu P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001493 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà O đã nộp xong.
Nguyên đơn bà Trần Thị Kim O được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông Lê Hữu P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPLX; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS TPLX; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Diệu Tiên |