- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thảo Ng.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________________ Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Tâm và ông Lương Tấn Nghị
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý– Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Bà Tạ Ngọc Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 101/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lê Thảo Ng, sinh năm 2000; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Bị đơn: Nguyễn Đông D, sinh năm 1992; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Đức Th, sinh năm 1967; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thảo Ng trình bày: Bà Lê Thảo Ng và ông Nguyễn Đông D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa P vào ngày 20/3/2019. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông D không lo làm ăn, tụ tập bạn bè ăn chơi, không tôn trọng vợ con, sống gia trưởng, không chăm lo vợ con. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông D tính nào tật nấy, không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà Ng yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đắc Th, sinh ngày 09/6/2020. Lâu nay, con chung do bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà Ng yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Đắc Th và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Bà Ng không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Nguyên Đông D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Đắc Th, sinh ngày 09/6/2020 cho nguyên đơn Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thảo Ng và bị đơn Nguyễn Đông D tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 20/3/2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đúng như xác nhận của Công an xã Hòa Phong tại biên bản xác minh ngày 07/5/2024.
Ý kiến ông Nguyễn Đức Thắng là cha ruột của bị đơn cho biết hôn nhân giữa bà Ng và ông D mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên ngăn nhiều lần nhưng vợ chồng không hòa hợp được, hiện hai vợ chồng bà Ng và ông D không sống chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà Ng và ông D đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thảo Ng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đắc Th, sinh ngày 09/6/2020, hiện do nguyên đơn đang nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Thành lâu nay do nguyên đơn nuôi dưỡng, cháu Thành còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Để tạo điều kiện cho cháu Thành phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Thành cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
[2.4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Lê Thảo Ng phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thảo Ng.
1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thảo Ng được ly hôn với bị đơn Nguyễn Đông D.
2. Về con chung: Giao 01 con chung Nguyễn Đắc Th, sinh ngày 09/6/2020 cho nguyên đơn Lê Thảo Ng trực tiếp nuôi dưỡng.
Bị đơn Nguyễn Đông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thảo Ng phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000842 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - CC THADS huyện Tây Hòa; - VKSND huyện Tây Hòa; - UBND xã Hòa Phong; CNKH số 14/2019); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Kim Thúy |