- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 52/2023/HSST Ngày: 18/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Điện.
2. Ông Nguyễn Duy Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Na Son, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm: 1991 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản L, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lò Văn P, sinh năm: 1965 và bà Lò Thị S, sinh năm: 1964; sống chung như vợ chồng với chị Lường Thị H, sinh năm 1989 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính lần nào; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 08/02/2023 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Lò Thị S, sinh năm: 1964; trú tại: Bản L, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người phiên dịch cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Quàng Văn K, sinh năm: 1987; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 30/01/2023, Lò Văn T một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B2-176.37 đi từ nhà lên bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lò Văn T đến bản P gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông 01 gói Heroine giá 70.000 đồng. Sau khi mua được Lò Văn T cầm gói Heroine trên tay trái điều khiển xe máy quay về nhà, đi đến đầu bản C, xã N thì bị công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ của Lò Văn T gồm một gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng, nghi là Heroine và 01 chiếc xe máy WAVE , biển kiểm soát 27B2-176.37 xe màu trắng đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 30/01/2023 và Kết luận giám định số 231/KL-KTHS ngày 06/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột trắng thu của Lò Văn T có khối lượng 0,16 gam, mẫu trích 0,08 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 04/QĐ ngày 23/3/2023 trả chiếc xe máy biển kiểm soát 27B2-176.37 cho bà Lò Thị S, sinh năm 1964, trú tại bản L, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin đầy đủ nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSĐBĐ ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 0,08 gam Heroine còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị S có lời khai khẳng định chiếc xe biển kiểm soát 27B2-176.37 mà công an thu giữ là xe của bà, việc bị cáo Lò Văn T con trai bà mang xe đi mua ma túy bà không biết. Quá trình điều tra công an huyện Đ đã trả lại xe cho bà. Bà S đã nhận lại được chiếc xe và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn T bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy, ngày 30/01/2023 bị cáo đã đi tìm mua được một gói Heroine, đang trên đường đi về nhà sử dụng thì bị công an phát hiện bị bắt quả tang, khối lượng gói Heroine là 0,16 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/01/2023, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hành vi tàng trữ 0,16 gam Heroine của bị cáo Lò Văn T nhằm mục đích sử dụng là hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bị cáo Lò Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ sử dụng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là cha của hai con nhỏ nhưng không tu dưỡng bản thân mà đua đòi bè bạn dẫn đến nghiện ma túy, từ nghiện ma túy đi tìm mua tàng trữ sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, gia đình thuộc diện hộ nghèo, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo phân tích đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án:
Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,16 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,08 gam không hoàn lại, còn 0,08 gam đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lò Thị S chiếc xe máy biển kiểm soát 27B2-176.37 do bà Sưới là chủ sở hữu hợp pháp và không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Trong quá trình điều tra do không có thông tin cụ thể nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 30/01/2023).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,08 gam Heroine (đã trừ giám định). Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi10 giờ 30 phút ngày 31/3/2023 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
- Chấp nhận việc cơ quan điều tra công an huyện Đ ra quyết định xử lý vật chứng số 04/QĐ ngày 23/3/2023 trả chiếc xe máy biển kiểm soát 27B2-176.37 cho bà Lò Thị S, sinh năm 1964, trú tại bản L, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18/4/2023.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |