vanban.org

Bản án 52/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/06/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 745/22 (3626), có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên (Bút lục số 56). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Phước - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 52/2023/HSST
Ngày: 15/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân.

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 03 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/HSST, ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 24/02/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc P; Sinh năm 1999; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp 5, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Thị C; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ruột có 02 người (kể cả bị cáo), bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 12/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội”Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2022 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 21/6/2022, Nguyễn Ngọc P điều khiển xe gắn máy biển số 61N7-1599 đi từ nhà tại Ấp 5, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy sử dụng. Trên đường đi P hỏi mượn điện thoại của người thanh niên (chưa rõ lai lịch) gọi vào số điện thoại 0924130329 gặp T (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy loại Heroine và hẹn tại đường ven sông thuộc xã T, huyện H. Khi đến điểm hẹn P đưa cho T 300.000 đồng và nhận lại 01 gói nylon chứa ma túy là Heroine. P cầm gói ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi P đi đến Tỉnh lộ 15, đoạn thuộc Ấp 11A, xã T, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong tay trái của P có 01 gói nylon chứa chất ma túy nên tiến hành thu giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với P có kết quả dương tính (+) với chất ma túy Heroine.

Kết luận giám định số 3626 ngày 29/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc P và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4365 gam, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 212/CT-VKS.CC ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo vì mong muốn có ma túy để sử dụng nên ngày 21/6/2022, bị cáo điện thoại gặp T mua 300.000 đồng ma túy loại Heroine, sau khi nhận ma túy P điều khiển xe đi đến Tỉnh lộ 15, đoạn thuộc Ấp 11A, xã Tân T, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 745/22 (3626), có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 61N7-1599, số khung: RLHHC09086Y529655, số máy: HC09E6529103. Qua xác minh xác định xe này do P mua lại của người thanh niên (chưa rõ lai lịch) và sử dụng làm phương tiện đi lại và mua ma túy ngày 21/6/2022. Tiến hành xác minh biển số, số khung, số máy được biết xe do ông Nguyễn Thái B (Nơi cư trú: phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương) đăng ký chủ sở hữu. Nhưng qua làm việc ông B khai ông không mua và không sở hữu, sử dụng xe gắn máy biển số 61N7-1599. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến nhận.

Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 16/01/2023, Toà án nhân dân huyện Củ Chi đã ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 10/2023/HSST-QĐ để tiến hành giám định độ tuổi của Nguyễn Ngọc P.

Ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi có Công văn số 54/CV-VKS-CC để hoàn lại hồ sơ vụ án Nguyễn Ngọc P và bổ sung Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 24/ĐT.16 ngày 06/6/2016 đối với Nguyễn Ngọc P.

Tại phiên tòa bị cáo P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Ngày 21/06/2022, bị cáo đã có hành vi mua và tàng trữ gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,4365 gam, để sử dụng cho bản thân. Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, lẽ ra phải phạt bị cáo một số tiền, tuy nhiên xét thấy bị cáo mua chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, không có thu lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong mang số vụ 745/22 (3626), có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên là vật chứng liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- 01 xe gắn máy biển số 61N7-1599, số khung: RLHHC09086Y529655, số máy: HC09E6529103. Qua xác minh xác định xe này do P mua lại của người thanh niên (chưa rõ lai lịch) và sử dụng làm phương tiện đi lại và mua ma túy ngày 21/6/2022. Tiến hành xác minh biển số, số khung, số máy được biết xe do ông Nguyễn Thái B (Nơi cư trú: phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương) đăng ký chủ sở hữu. Nhưng qua làm việc ông B khai ông không có mua và không sở hữu, sử dụng xe gắn máy biển số 61N7-1599. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến nhận, bị cáo cũng không nhận lại, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, sau này có ai tranh chấp với bị cáo P sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác là phù hợp.

Đối với người thanh niên bán trái phép chất ma túy cho P, hiện chưa xác định được nhân thân và lai lịch nên chưa xử lý được, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Phước phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/06/2022.

- Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 745/22 (3626), có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên (Bút lục số 56).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 61N7-1599, số khung: RLHHC09086Y529655, số máy: HC09E6529103 (Bút lục số 56).

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ