- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HSST Ngày: 26-6-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Miên và bà Nguyễn Thị Hiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 6 năm 2023, đối với:
1. Bị cáo: Tòng Văn Q, sinh năm 1997. Nơi ĐKHK và cư trú: Bản PL, xã HT, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn È và bà Cà Thị Anh (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo 04 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Liên - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương (có mặt).
2. Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức D và ông Vũ Hữu T (vắng mặt).
3. Những người tham gia tố tụng khác: Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Giàng:
- Ông Phạm Hoàng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng.
- Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng.
- Ông Lưu Thanh Đức - Cán bộ Công an huyện Cẩm Giàng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng gần 10 giờ ngày 21/02/2023 bị cáo đi từ trên quê xuống đến địa bàn thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng và đi vào thôn Bầu, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng tìm chỗ trọ. Trên đường đi đến khu vực giếng thôn Bầu để thuê phòng trọ thì bị cáo có gặp 02 thanh niên không quen biết (bị cáo chỉ biết 02 nam thanh niên này giới thiệu cùng quê Sơn La với bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai người này). Sau khi bị cáo gặp có hỏi 02 nam thanh niên trên "lại đi tìm kiếm à" (ý bị cáo hỏi đi mua ma túy để sử dụng) thì có một nam thanh niên bảo bị cáo là "có sẵn ở đây rồi". Bản thân là người sử dụng ma túy nên bị cáo có hỏi xin một ít để sử dụng thì hai thanh niên này cho bị cáo 01 gói giấy bên trong có ma túy loại Heroine, sau đó 02 nam thanh niên ra về, lúc này bị cáo thấy 01 ống hút nhựa có dòng kẻ màu xanh trắng, bị cáo cầm và dùng bật lửa để cắt và chia đều số ma túy trên cho vào 02 đoạn ống hút sau đó dùng lửa hàn kín 02 đầu đoạn ống hút và cất giấu trong lòng bàn tay phải. Quá trình hàn 02 đoạn ống hút xong bị cáo vứt mảnh giấy đựng ma túy và bật lửa đi. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày bị cáo đang cầm 02 đoạn ống hút nhựa có dòng kẻ màu xanh trắng bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng trong lòng bàn tay phải của bị cáo thì bị lực lượng Công an thị trấn Lai Cách phát hiện và tiến hành lập biên bản, niêm phong thu giữ: 02 đoạn ống hút nhựa có dòng kẻ màu xanh, trắng, kích thước (0,5x1,2) cm bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng. Đây là 02 đoạn ống hút đựng ma túy loại Heroine của bị cáo cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Quá trình phát hiện có sự chứng kiến của ông Nguyễn Đức D và ông Vũ Hữu T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng tiến hành xét nghiệm nước tiểu bằng thanh thử ma túy Fastep tìm chất ma túy đối với Tòng Văn Q, kết quả cho thấy Tòng Văn Q âm tính với ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 172/KLGĐ - KTHS ngày 23/02/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa có kẻ màu xanh trắng (loại ống hút nước) được hàn kín hai đầu được niêm phong trong phong bì thư ghi thu của Tòng Văn Q, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,105gam là ma túy, loại Heroine (Heroine là một loại ma túy nằm trong danh mục IA, STT 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,055gam ma túy loại Heroine; 02 đoạn ống nhựa có kẻ màu xanh trắng (loại ống hút nước) và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.
Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 15/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Tòng Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bị cáo có hành vi cất giấu trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ ma túy, ngoài ra bị cáo không có mục đích gì khác. Bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là đúng.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Tòng Văn Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/02/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 172/KL- KTHS bên trong chứa 0,055gam ma túy loại Heroine; 02 đoạn ống nhựa có kẻ màu xanh trắng (loại ống hút nước).
Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của địa phương nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo phát biểu: Bị cáo có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" như Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố là có cơ sở, phù hợp với kết quả xét hỏi công khai tại phiên toà, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do bị bạn bè rủ rê, hơn nữa là người dân tộc thiểu số nên nhận thức hiểu biết pháp luật hạn chế dẫn đến hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo cho bị cáo hưởng mức án 12 tháng tù để thể hiện được sự khoan hồng nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội và cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội, tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.Về hình phạt bổ sung không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc hộ cận nghèo của địa phương và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng trong phiên tòa: Bị cáo nhận thức được hành vi mà mình đã thực hiện là sai, là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 21/02/2023, tại khu vực giếng nước thôn Bầu, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Tòng Văn Q có hành vi cất giấu trái phép 0,105gam ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay phải vớ i mu ̣c đich để sử́ dụng thì bị Công an thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội làm mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Chất ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cất giấu ma túy khi không được nhà nước cho phép là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, không chịu lao động, tu dưỡng bản thân biết việc cất giấu trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm cấm. Xét về hành vi, trọng lượng và chất ma túy mà bị cáo cất giấu đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt TNHS): Bị cáo có nhân thân tốt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Hội đồng xét xử thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
.Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy 0,055gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 02 đoạn ống nhựa (loại ống hút nước) có kẻ màu xanh trắng dùng làm công cụ sử dụng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Các vấn đề khác: Đối với hai đối tượng cho bị cáo Quyết gói ma túy, quá trình cho ma túy không ai biết và không chứng kiến. Do thông tin về hai đối tượng không rõ ràng nên đến nay chưa xác minh, làm rõ được. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
. Về án phí: Bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của địa phương nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 172/KLGĐ- PC09 bên trong chứa 0,055gam ma túy loại Herôin gói bằng giấy trắng bên ngoài là nilon màu trắng; 02 đoạn ống nhựa (loại ống hút nước) có kẻ màu xanh trắng.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng vào ngày 26/5/2023).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn Q.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - VKSND huyện Cẩm Giàng; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Cẩm Giàng; - Cơ quan THAHS- Công an huyện Cẩm Giàng; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Cẩm Giàng; - Vụ Giám đốc kiểm tra I- Tòa án nhân dân cấp cao; - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Vân Hà Nguyễn Thị Vân Hà |