- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:52/2023/HS-ST Ngày 10/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hiến
Ông Nguyễn Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 52/2023/HSST ngày 16 tháng 06 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 11/7/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/HSST-QĐ ngày 25/7/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 tại Khánh Hòa; nơi cư trú:Thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh K; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha (không rõ), họ tên mẹ: Nguyễn Thị K (sinh năm 1959); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
* Bị hại: Ông Lê Văn K, sinh năm 1967 (đã chết).
Nơi cư trú trước khi chết: Thôn N,, xã N, thị xã N, tỉnh K
Đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968 (Vợ bị hại)
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N
Chị Lê Thị Trà M sinh năm 1987 (Con bị hại)
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N
Chị Lê Thị Trà NG, sinh năm 1994 (Con bị hại)
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N.
Bà Nguyễn Thị C chị Lê Thị Trà Ng ủy quyền cho chị Lê Thị Trà M (Văn bản ủy quyền số 554 quyển số 01 –SCT/CK, ĐC của Ủy ban nhân dân xã Ninh Ích, thị xã N). Bà Mi có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn T. Đại diện theo pháp luật: Bà Đinh Thị Kim T.
Địa chỉ: 70 P, phường P, thành phố N. Bà T có mặt.
- Bà Lê Thị Phương L, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thị xã N. Bà L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T có giấy phép lái xe hạng C, là nhân viên Công ty TNHH T. Ngày 30/10/2022 Nguyễn Thanh T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát số 79C – 181.70 chở hàng đi từ hướng N – Nha Trang. Đến khoảng 12h40 phút cùng ngày khi đi đến km số 1429+300 thuộc thôn Tân Thủy, xã Ninh Lộc, thị xã N lúc này xe ô tô T điều khiển di chuyển ở làn đường sát giải phân cách cứng, phía trước có xe container, ở làn đường bên phải có xe ô tô khách đang vượt lên. Sau khi xe ô tô khách vượt, T điều khiển xe chuyển sang làn đường bên phải để vượt xe container thì thấy có xe mô tô biển kiểm soát 79H1 052.91 do Lê Văn K điều khiển đang lưu hành trên là đường cùng chiều phía trước nhưng T vẫn điều khiển xe vượt lên nên phần cảng trước bên phải của xe ô tô đã va chạm vào xe mô tô làm ông K ngã ra đường, bị xe ô tô cán tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 507/TT-TTPY ngày 02/11/2022 của Trung T pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Văn K do đa chấn thương.
Tại bản kết luận giám định độc chất số 59/ĐC-TTPY ngày 02/11/2022 của Trung T pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận: Mẫu máu của ông Lê Văn K có nồng độ Ethanol 40.94mg/100ml
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 30/11/2022 xác định: Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong, hướng N – Nha trang mặt đường trải nhựa bằng phẳng, được phân chia ba làn đường riêng biệt, mỗi làn rộng lần lượt là 1m60, 3m50 và 3m55
Sau tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 79H1 05291 nằm ngả nghiêng bên trái và để lại vết cày xước kích thước 11m80 x 0m70 trên làn đường số 2 điểm đầu vết cày xước cách mép đường bên phải hướng N – Nha Trang là 2m15, điểm cuối kết thúc tại vị trí xe mô tô ngã, trục bánh trước, bánh sau cách mép đường bên phải lần lượt 1m43 và 0m20
Trên mặt làn đường số 2 ghi nhận tử thi nam giới, đầu tử thi cách mép đường bên phải 2m80, gót phân phải cách mép đường bên phải 1m85, cách trục sau xe mô tô 2m56, cách đầu tử thi 5m40 ghi nhận mũ bảo hiểm đã bị vỡ nhựa và cách mép đường bên phải là 2m40, ghi nhận xe ô tô biển kiểm soát 79C 181.70, Trục I, trục III bên phải cách mép đường bên phải lần lượt là 0m25 và 0m15, trục III bên trái cách trục sau xe mô tô là 53m30.
Tại các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 30/10/2022 xác định: Xe mô tô 79H1 05291 đầu tay lái, tay thắng bên trái bị mài mòn kim loại, bửng chắn gió bên trái, ốp nhựa thân xe bên phải bị trầy xước, ốp kim loại ống xả khói bị mài mòn kim loại, cần khởi động xe bị mài mòn kim loại, đèn báo rẽ trái sau đuôi xe bị trầy xước nhựa
Xe ô tô 79C 181.70 góc dưới bên phải cảng trước ghi nhận ba vết bong tróc sơn, chiều hướng từ trước ra sau.
Tại bản kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an thể hiện: Chất màu trắng là vết sơn góc phải cảng xe trước của xe ô tô 79C 181.70 (ký hiệu A) và chất màu trắng dính ở ốp kim loại ống xả khói, ốp kim loại phía sau ống xả khói của xe mô tô 79H1 052.91 (ký hiệu D, E) có thành phần hóa học cơ bản giống nhau.
Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 06 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp nên không xem xét, giải quyết; tuyên về quyền kháng cáo, án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sởm trở về để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu được của vụ án, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 50/TT-TTPY ngày 02/11/2022 của Trung T pháp y tỉnh Khánh Hòa; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 30/10/2022, các biên bản khám nghiệm phương tiện; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 30/10/2022 tại km số 1429+300 thuộc thôn Tân Thủy, xã Ninh Lộc, thị xã N Nguyễn Thanh T đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát số 79C – 181.70 vượt xe không đảm bảo an toàn nên đã tông vào xe mô tô BKS 79H1 05291 do ông Lê Văn K điều khiển đang di chuyển trên làn đường cùng chiều phía trước làm chết người. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật nhưng do cẩu thả bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông khi tham gia giao thông của bị cáo Nguyễn Thanh T dẫn đến việc ông Lê Văn K tử vong đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số 49/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 06 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ đúng người, đúng tội.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phải nhận thức được việc xe ô tô tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, người điểu khiển xe ô tô tham gia giao thông phải đảm bảo an toàn khi vượt các xe khác, do không tuân thủ luật giao thông đường bộ, bị cáo điều khiển xe ô tô vượt ẩu, không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra tai nạn. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, được người bị hại làm đơn bãi nại, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và an T cải tạo.
Về trách nhiệm dân sự: Sự việc xảy ra bị cáo đã cùng bà Đinh Thị Kim Tuyến là đại diện theo pháp luật Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sản xuất thương mại Thành Phương bồi thường cho đại diện gia đình bị hại và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sản xuất thương mại Thành Phương đại diện theo pháp luật bà Đinh Thị Kim Tuyến không xác định được số tiền đã cùng bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại và tại phiên tòa đại diện theo pháp luật Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sản xuất thương mại Thành Phương cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền công ty đã cùng với bị cáo bồi thường cho đại diện gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Phương Lung vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về vật chứng: Xe ô tô tải biển kiểm soát 79C -18170 và xe mô tô biển kiểm soát 79H1 – 05291 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N trả lại cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của bị hại (Bút lục 91, 92) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 9 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Phương l vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
3. Về vật chứng: Xe ô tô tải biển kiểm soát 79C -18170 và xe mô tô biển kiểm soát 79H1 – 05291 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N trả lại cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của bị hại (Bút lục 91, 92) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Công an thị xã Ninh Hòa; - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |