- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ B.T.D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày 13-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Đình Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Sự và bà Lê Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Vĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh t sơ th m công hai vụ án hình sự sơ th m thụ l số: 38/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra t số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Bùi Thị D, sinh ngày 14/10/1986, tại M, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, ã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: inh; giới tính: nữ; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn P và bà Phạm Thị V; có chồng là Phạm Văn K và có 02 con; tiền án, tiền sự: hông; bị cáo tại ngoại bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi hỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại: bà Phạm Thị T, sinh năm 1938; nơi cư trú: hu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Bùi Xuân H, sinh năm 1965; nơi cư trú: hu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị t vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Phạm Văn K, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn E, ã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị t vắng mặt
- Người làm chứng: anh Trần Văn N, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hoảng 18 giờ ngày 04/02/2023, Bùi Thị D (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 14K1-280.83 đi trên Quốc lộ A, hướng từ Trung tâm thành phố M đến huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến đoạn đường Km 279+850 có biển báo hạn chế tốc độ 50km/h và biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, thuộc hu B, phường H, thành phố M, D điều khiển xe đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ theo quy định, nên đã đâm vào bà Phạm Thị T, sinh năm 1938, trú tại: hu B, phường H, thành phố M đang đi bộ qua đường, hướng từ trái sang phải theo hướng đi của D. Hậu quả: bà Phạm Thị T bị thương được đưa đến Bệnh viện cấp cứu và điều trị, đến ngày 05/02/2023, bà T bị t vong tại nhà riêng; Bùi Thị D bị thương tích nhẹ; xe mô tô bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường (theo hướng từ Trung tâm thành phố M đến huyện H), trong điều kiện ban ngày, trời mưa nhỏ, ánh sáng tự nhiên, xác định (còn nguyên dấu vết trên hiện trường, phương tiện có liên quan đã rời khỏi hiện trường; nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu). Nơi xảy ra tại nan là đường hai chiều, thẳng, mặt đường rải bê tông nhựa, phẳng, ướt, rộng 10,5m. Giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng phân chia hai chiều đường. Phần đường bên phải rộng 5,25m, phía trước nơi xảy ra tai nạn hướng M - H có biển báo hạn chế tốc độ 50km/h và biển báo W.207d “giao nhau với đường không ưu tiên”. Tại phần đường bên phải, trên lề đường bên phải, đối diện với cổng trào hướng vào Công ty M có 01 vết lốp in hằn xuống mặt đất và cày xới đất dài 2,8m, chỗ rộng nhất 0,4m, chỗ hẹp nhất 0,04m. Từ điểm đầu và điểm cuối của vết cách mép đường bên phải lần lượt là 0,2m và 0,7m; từ điểm đầu của vết cách cột điện số 04 trên lề đường bên phải là 7,75m.
Tại biên bản thực nghiệm điều tra, xác định: vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 14K1-280.83 do Bùi Thị D điều khiển với bà Phạm Thị T, vị trí bà T bị hất ngã nằm xuống mặt đường, vị trí D bắt đầu x lý phanh xe (bóp phanh) và vị trí xe mô tô bị đổ xuống đường đều nằm trên phần đường bên phải (theo hướng Trung tâm thành phố M đến huyện H). Trong đó, phần phía trước bên trái tay lái xe mô tô 14K1-280.83 va chạm với phần người bên phải vùng phía sau cẳng chân phải của bà T; tại thời điểm va chạm, khoảng cách từ đầu trục bánh trước và đầu trục bánh sau bên phải xe mô tô 14K1-280.83 đến mép đường bên phải lần lượt là 2,3m và 2,6m. Vị trí bà T nằm dưới mặt đường cách vị trí va chạm là 3,6m, khoảng cách từ đỉnh đầu và gót chân bên phải đến mép đường bên phải lần lượt là 2,4m và 1,4m. Vị trí Bùi Thị D bóp phanh xe mô tô cách vị trí bà T bị hất văng xuống đường là 8,7m, khoảng cách từ đầu trục bánh trước và trục bánh sau bên phải xe mô tô cách mép đường bên phải lần lượt là 2,0m và 2,15m. Vị trí xe mô tô 14K1-280.83 nằm đổ trên lề đường bên phải, từ đầu trục lốp sau bên phải xe mô tô cách vị trí xe Duyên bóp phanh là 19,8m, cách cột điện số 04 trên lề đường bên phải là 7,2m.
Khám xe mô tô biển số 14K1-280.83, xác định: ốp gương chiếu hậu bên trái bị gẫy vỡ; cánh yếm bên trái bị gẫy vỡ kích thước (25x2)cm, tâm vùng vỡ cách mặt đất 65cm; ốp lưng đầu xe bên trái bị gẫy vỡ kích thước (40x8)cm; tay ghi đông phía bên trái có gắn 01 gang tay chống gió; đầu cần trục lốp trước bên trái có bám dính bùn đất và cây cỏ; ốp gương chiếu hậu bên phải bị trầy xước nhựa; đầu tay ghi đông và đầu tay phanh bên phải bị mài xước kim loại; ốp ống xả bên phải bị trầy xước, bám dính mạt màu trắng; đầu cần để chân phía sau bên phải bị mài xước kim loại; ốp bệ để chân phía trước bên phải bị gẫy vỡ kích thước (14x3)cm, ốp mặt dưới ốp bệ để chân bị trầy xước nhựa kích thước (30x7)cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về t thi số 30/23/TT ngày 06/02/2023, của Trung tâm Pháp y - Sở Y, kết luận: nguyên nhân bà Phạm Thị T t vong do chấn thương sọ não kín, vỡ xương ch m, tụ máu dưới màng cứng, chảy máu khoang dưới nhện, phù não, chèn ép não, chết não.
Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Bùi Thị D điều khiển xe mô tô 14K1-280.83 tham gia giao thông khi trời mưa, đến nơi có biển báo nguy hiểm và biển hạn chế tốc độ, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ theo quy định, dẫn đến xe mô tô do D điều khiển đã đâm vào bà Phạm Thị T đi bộ qua đường, đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1, 6, 11 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019, của Bộ G.
Quá trình điều tra, Bùi Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Ngoài ra, D còn khai, ngay trước khi xảy ra tai nạn, D điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 50-55km/h.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSMC ngày 08/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo Bùi Thị D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét x áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, hoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; x phạt: bị cáo Bùi Thị D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian th thách là 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ th m; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân ã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian th thách.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại hông yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng t
hông em t.
Về vật chứng vụ án: đối với chiếc e mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 14K1-280.83, quá trình điều tra ác định là tài sản chung của vợ chồng D, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc e trên và giấy tờ liên quan cho Bùi Thị D. Đối với 01 giấy ph p lái e số 221191004796, Hạng A1 mang tên Bùi Thị D đề nghị Hội đồng t
trả lại cho bị cáo.
Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn uất nhập cảnh” đối với bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, tại đơn đề nghị t vắng mặt có iến: sự việc ảy ra hông mong muốn, sau hi ảy ra tai nạn bị cáo D đã ịp thời hắc phục hậu quả, bồi thường thỏa đáng. Nay, gia đình bị hại hông yêu cầu bồi thường gì thêm và in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, tại đơn đề nghị t vắng mặt có iến: gia đình đã nhận lại chiếc e mô tô, hông có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị D đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện iểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là đúng. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng t
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật Viện iểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố đối với bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị D khai báo thành h n về hành vi phạm tội của mình, lời hai của bị cáo phù hợp với lời hai của người làm chứng, phù hợp với biên bản hám nghiệm hiện trường, biên bản hám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản hám nghiệm t thi, bản giám định pháp y, cùng với các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án được th m tra và công bố công hai tại phiên tòa có đủ cơ sở ác định: hoảng 18 giờ ngày 04/02/2023, tại Km 279 + 850 Quốc lộ A đoạn thuộc hu B, phường H, thành phố M, Bùi Thị D (có giấy ph p lái e theo quy định) điều hiển e mô tô biển số 14K1-280.83, trong điều iện trời mưa, hông chú quan sát, hông giảm tốc độ theo quy định đã đâm vào bà Phạm Thị T đang đi bộ qua đường, gây tai nạn. Hậu quả: bà Phạm Thị T bị t vong. Do đó, hành vi của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự như ết luận của đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết định hung hình phạt: bị cáo điều hiển e mô tô trong điều iện trời mưa, hông chú quan sát, hông giảm tốc độ theo quy định đã gây tai nạn làm chết người, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a hoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã trực tiếp âm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, âm phạm đến sức hỏe, tính mạng của người hác, gây tâm l lo ngại cho người tham gia giao thông. Bởi vậy, cần phải được l nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành h n hai báo, ăn năn hối cải; sau hi ảy ra tai nạn đã ịp thời đưa người bị nạn đi cấp cứu; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về ác định lỗi: theo quy định tại hoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ thì: Người lái e, người điều hiển e máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ e chạy trên đường... Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
...
6. Khi có người đi bộ...qua đường;
...
11. Trời mưa...
Bị cáo điều hiển e mô tô trong điều iện trời mưa, đến nơi có biển báo nguy hiểm và biển hạn chế tốc độ, hông giảm tốc độ, hông chú quan sát đã đâm vào bà T hi sang đường, hậu quả làm bà T t vong sau hi đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên, t thấy trong vụ tai nạn giao thông này, bị hại cũng có một phần lỗi hi đi bộ qua đường nơi hông có đèn tín hiệu, hông có vạch ẻ đường mà hông quan sát, qua đường hi chưa đảm bảo an toàn. Do vậy, Hội đồng t nhận định để dẫn đến ảy ra tai nạn là lỗi hỗn hợp, trong đó lỗi chính là do bị cáo.
Về hình phạt chính: từ các phân tích nêu trên, Hội đồng t
t thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, hông cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, vì bị cáo có hả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo hông gây nguy hiểm cho ã hội, hông ảnh hưởng ấu đến an ninh, trật tự, an toàn ã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: t thấy hành vi phạm tội do lỗi vô , bị cáo hông hành nghề lái e nên hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị vắng mặt và đã có các lời hai trong hồ sơ thể hiện gia đình bị hại đã được bị cáo bồi thường đầy đủ và hông yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng t
hông em t giải quyết.
Về l vật chứng: chiếc e mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 14K1-280.83 được ác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, là phương tiện duy nhất của hai vợ chồng, Cơ quan Điều tra Công an thành phố M đã trả lại cho chủ sở hữu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hông có yêu cầu gì đối với thiệt hại của chiếc e, nên Hội đồng t
hông em t giải quyết. Trả lại cho bị cáo một giấy ph p lái e số/No: 221191004796, hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 30/7/2019 mang tên Bùi Thị D.
Về án phí và quyền háng cáo đối với bản án: bị cáo Bùi Thị D phải chịu án phí hình sự sơ th m và được quyền háng cáo bản án theo quy định pháp luật. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền háng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Căn cứ vào điểm a hoản 1 Điều 260; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; hoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
X phạt: bị cáo Bùi Thị D 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian th thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ th m.
Giao bị cáo Bùi Thị D cho Ủy ban nhân dân ã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian th thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d hoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú số 16/2023/HSST-LCĐKCT ngày 17/5/2023 và Quyết định tạm hoãn uất nhập cảnh số 21/2023/QĐ-TA ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Bùi Thị D.
2. Về l vật chứng: áp dụng hoản 1, điểm a hoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo một giấy ph p lái e số/No: 221191004796, hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 30/7/2019 mang tên Bùi Thị D.
3. Về án phí: Căn cứ vào hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Bùi Thị D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th m.
4. Về quyền háng cáo: Áp dụng hoản 1, 4 Điều 331 và hoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp Quảng Ninh; - CQĐT Công an cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Cơ quan THAHS Công an cùng cấp; - Bộ phận HSNV Công an cùng cấp; - Lưu: hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Khoa |