vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D, phạm tội “Mua bán trái ph p ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 09 (chín) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 07 (bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chấp ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D, phạm tội “Mua bán trái ph p ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 04-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ong Thị Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Thanh

2. Ông Bùi Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyên là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 134/2023/HSST-QĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Quốc T (tên gọi khác: T Ba T); sinh năm 1991, tại Đồng Tháp; Nơi thư ng trú: p 1, xã M, thành phố C, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Trần Văn H và bà Cao Thị C; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con nh nhất trong gia đình; Có v đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 24/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua án trái ph p ch t ma túy” theo Bản án số 60/2017/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/12/2021; Tiền sự: Không; Tạm gi : Ngày 19/10/2022; Tạm giam: Ngày 25/10/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Anh D (Tên gọi khác: B), sinh năm 2003, tại Đồng Tháp; Nơi thư ng trú: p A, xã A, huyện C, Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Nguyễn Ngọc T và bà V Thị Hồng P; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nh nhất trong gia đình; Chưa có v , con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm gi : Ngày 19/10/2022; Tạm giam: Ngày 25/10/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người ào chữa cho ị cáo Tr n Qu c T: Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H -Trưởng Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; (có mặt)

Địa chỉ: Số 2, đư ng Thiên Hộ D, phư ng H, thành phố C, tỉnh Đ.

- Những người làm chứng:

1. Lê Trọng B (T), sinh năm 1977; (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm B, Phư ng S, thành phố C, tỉnh Đ.

2. Trần Chí C (Th), sinh năm 1994; (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm B, Phư ng S, thành phố C, tỉnh Đ.

3. Hồ Đức T, sinh năm 2003; (vắng mặt)

Địa chỉ: p A, xã A, huyện C, tỉnh Đ.

4. Nguyễn Hoàng D (G), sinh năm 1981; (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm M, Phư ng M thành phố C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Trần Quốc T có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép ch t ma tuý” chưa đư c xóa án tích. Sau khi về địa phương, T quen một thanh niên tên là B ở thành phố H qua mạng xã hội, sau đó T đặt mua ma túy của B và th a thuận giao dịch mua bán ma túy tại bến xe C. Cách thức là B mang ma tuý đến bến xe C b vào thùng rác, sau đó liên hệ gặp T nhận tiền và chỉ chỗ thùng rác cho T lấy ma túy. Sau khi mua ma túy từ B, T về phân nh ra cho vào túi nylon có nắp kẹp, dán kín bằng băng keo đen hoặc ống hút bằng nhựa cắt ngắn hàn kín để bán lại cho nh ng ngư i nghiện ma túy, kiếm l i mua ma túy sử dụng cho bản thân. Trong đó, T có bán ma túy cho Nguyễn Anh D, sau khi mua ma túy của T, D tiếp tục bán lại ma túy cho ngư i nghiện khác để kiếm l i.

Khoảng 15 gi 20 phút, ngày 19/10/2022, D mang đoạn ống hút bằng nhựa có chứa ma tuý bên trong đến khu vực nhà xe của khách sạn P Hotel tại số 2, đư ng Tôn Đức T, khóm M, phư ng M, thành phố C, tỉnh Đ bán cho Trần Chí C 01 tép ma túy với số tiền 200.000 đồng, nhưng chưa giao nhận tiền và ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang, thu gi của D các tang vật gồm:

+ Thu gi trong bóp da màu đen để trong túi quần phía sau bên trái của D đang mặc: 01 đoạn ống hút nhựa sọc trắng hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, D khai nhận là ma tuý đá (do D mua từ Trần Quốc T để bán lại cho Trần Chí C, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng, ký hiệu A1.

+ 01 điện thoại di động Iphone màu trắng – đen, số thuê bao 0907467864 (không kiểm tra bên trong), đư c niêm phong ký hiệu A2. (D dùng liên lạc bán ma túy).

+ Tiền Việt Nam: 450.000 đồng tiền do D bán ma túy trước đó có đư c.

+ 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dùng để cắt các đoạn ống hút cho chất ma túy vào hàn kín 02 đầu ống hút lại bán cho con nghiện.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu KWASHAK1 (tem SIRIUS), màu vàng – đen, biển số 66NA-001.55, số máy: 00013993, số khung: 003993, xe do V Thị Hồng P mẹ ruột của D mua xe cũ của Thái Thanh S, sinh năm 1972, thư ng trú tại khóm M, xã P, huyện T, tỉnh Đ, chưa sang tên, dùng để đi mua bán gà vịt, không biết D lấy xe đi mua bán ma túy.

Qua l i khai nhận của D, lực lư ng Công an tiến hành gi ngư i trong trư ng h p khẩn cấp đối với Trần Quốc T và tiến hành khám xét nơi ở của Trung là nhà riêng tại tổ S, ấp M, xã M, thành phố C, đã thu gi đư c các tang vật gồm: 01 hộp giấy hình hộp ch nhật màu vàng – đen để trên tủ gỗ, bên trong có: 05 bịch nylon loại nắp kẹp có viền màu đ và 01 bịch nylon loại nắp kẹp có viền màu xanh, tất cả bên trong đều có chứa tinh thể rắn màu trắng đư c niêm phong ký hiệu là A3; 02 bịch nylon màu trắng, hàn kín đư c quấn kín lại bằng keo đen bên trong đều có chứa tinh thể rắn màu trắng đư c niêm phong ký hiệu là A4; 01 mãnh vỡ viên nén màu hồng đư c quấn kín lại bằng nửa t vé số kiến thiết và 02 viên nén màu hồng đư c đựng trong bịch nylon hàn kín đư c niêm phong ký hiệu là A5.

Trên bàn th ông địa ở phòng khách có 01 khẩu trang màu trắng, bên trong có: 01 bịch nylon nắp kẹp viền màu đ và 01 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng đư c niêm phong ký hiệu là A6; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 n thuỷ tinh; 01 đoạn ống hút màu trắng cắt nhọn 01 đầu; 02 bật lửa gas; 04 bịch nylon có nắp kẹp có viền màu đ ; 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng.

Trong góc phòng bên trái thu gi : 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 n thủy tinh; 03 đoạn băng keo đen; 1/2 t vé số kiến thiết; 01 cái hộp giấy hình ch nhật màu vàng đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0385706800; 01 thẻ ATM tên Trần Quốc T thuộc Ngân hàng Vietcombank.

Các vật chứng trên dùng làm phương tiện bán ma túy và phục vụ cho việc sử dụng ma túy của T.

- Trên giá treo quần áo, bên trong túi áo khoác của Trần Quốc T có 01 bóp da nâu, bên trong bóp có: Tiền Việt Nam 10.100.000 đồng. Trong đó có 100.000 đồng là tiền T bán ma túy có đư c, còn lại 10.000.000 đồng là tiền T mư n của bà Cao Thị C là mẹ ruột của T để mua xe nhưng chưa mua đư c thì bị thu gi .

- Trên nệm thu gi : 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đen đã qua sử dụng chưa kiểm tra thẻ sim bên trong, thân trầy xước, màn hình bị vỡ nứt, điện thoại của con gái của Trung tên Trần Ngọc Phương T dùng để chơi game, không liên quan đến việc mua bán ma túy của T.

Kết luận giám định số: 953, 954/KL-KTHS cùng ngày 21/10/2022, của Phòng k thuật hình sự - Công an tỉnh Đ, kết luận:

- Tinh thể rắn chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa sọc trắng hàn kín, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu A1 thu gi của Nguyễn Anh D là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lư ng 0,083gam.

- Tinh thể rắn chứa trong 05 bịch nylon loại nắp kẹp viền đ và 01 bịch nylon loại nắp kẹp viền xanh, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu A3 đều là chất ma túy Methamphetamine, tổng khối lư ng 7,915gam.

- Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon hàn kín, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu A4 thu gi của T đều là chất ma túy Methamphetamine, tổng khối lư ng 0,763gam.

- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon loại nắp kẹp viền đ và 01 bịch nylon hàn kín, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu A6 thu gi của Trung đều là chất ma túy Methamphetamine, tổng khối lư ng 0,523gam.

- Riêng mảnh vỡ viên nén và 02 viên nén màu hồng, đư c niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu A5 nêu trên giám định có tổng khối lư ng 1,267gam đều không phát hiện thành phần các chất ma túy và tiền chất ma túy thư ng gặp.

Như vậy số ma túy thu gi tại nơi ở của T đã mua và để bán lại có tổng khối lư ng 9,284gam, loại Methamphetamine.Trong đó, ma túy thu gi tại nhà T đã giám định có tổng khối lư ng 9,201gam, loại Methamphetamine và khối lư ng 0,083gam, loại Methamphetamine mà T đã bán cho D lúc bắt quả tang đã thu gi .

Ngoài ra, trong quá trình điều tra Trần Quốc T còn khai nhận đã bán ma túy cho nh ng ngư i nghiện ma túy khác nhiều lần cụ thể như sau:

- Từ khoảng đầu tháng 10/2022 không nhớ ngày cụ thể, T 02 lần bán ma túy đá cho Nguyễn Hoàng D (G), mỗi lần bán là 600.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000 đồng, việc giao ma túy cho D diễn ra vào ban ngày, ngoài đư ng nhưng không nhớ ở đoạn đư ng nào, Trung nhận tiền mặt từ D khi trao ma túy cho D, số ma túy mua về D sử dụng một mình hết.

- Trung bán cho Nguyễn Anh D 04 lần, cụ thể như sau:

+ Lần 1 vào ngày 01/10/2022, lần 2 vào ngày 11/10/2022, lần 3 vào ngày 14/10/2022, Nguyễn Anh D sử dụng tài khoản cá nhân của ngân hàng Quân đội (MBBank) chuyển cho T qua tài khoản tên Trần Quốc T của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tổng cộng 1.400.000 đồng để mua ma tuý, T đồng ý bán, hẹn gặp và đã giao tiền, ma túy gần chùa K thuộc xã M, thành phố C, tỉnh Đ.

+ Lần 4: T bán cho Nguyễn Anh D vào khuya ngày 18/10/2022, D dùng tài khoản ngân hàng MBBank chuyển vào tài khoản Ngân hàng V cho T 300.000 đồng kèm theo nội dung “làm cho em cái 1.700.000 đồng, em chuyển trước 300.000 đồng, còn lại em đưa sau”. Đến sáng ngày 19/10/2022, Trung bán cho D 1.700.000 đồng ma túy, T gọi cho D hẹn giao nhận ma túy trước Bệnh viện Y, T đưa D bịch ma túy xong và nhận từ D thêm 1.400.000 đồng.

Khi trao đổi mua bán ma túy với nh ng ngư i nghiện ma túy, T sử dụng điện thoại NOKIA màu xanh, không cảm ứng, sim số 0385706800 để liên lạc. Các lần bán ma túy trên T thu đư c tổng số tiền 4.300.000 đồng, T đã tiêu xài chỉ còn lại 100.000 đồng đã thu gi trên.

Còn Nguyễn Anh D khai nhận ngoài lần bắt quả tang trên ra, sau khi mua ma tuý của Trần Quốc T về D bán lại cho nh ng ngư i nghiện ma túy khác kiếm l i cụ thể như sau:

Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 19/10/2022, D bán ma túy cho Trần Chí C 02 lần với số tiền là 300.000 đồng và 200.000 đồng; Lê Trọng B 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; bán cho G không biết r nhân thân địa chỉ cụ thể 03 lần với số tiền lần lư t là: 300.000 đồng, 200.000 đồng và 250.000 đồng, địa điểm giao ma tuý cho C, B và G là mương thủy l i gần nơi cư trú của D. Các lần bán ma túy trên D thu đư c tổng số tiền 1.650.000 đồng, D đã tiêu xài còn lại 450.000 đồng.

Trao trả các tang vật đã thu gi không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: Trả Cao Thị C (mẹ ruột của T) số tiền T mư n để mua xe là 10.000.000 đồng; Trả Trần Ngọc Phương T, sinh ngày 18/4/2009 là con ruột của T 01 chiếc điện thoại Iphone màu trắng đen, thân bị trầy xước, màn hình bị vỡ nứt; Trả V Thị Hồng P là mẹ ruột Nguyễn Anh D 01 (một) xe mô tô biển số nhãn hiệu KWASHAK1 (tem SIRIUS), loại 50, màu vàng - đen, biển số 66NA-001.55, Số máy: 00013993, số khung: 003993.

Đối với Nguyễn Hoàng D, Trần Chí C, Lê Trọng B, Hồ Đức T mua ma tuý của Trần Quốc T và Nguyễn Anh D về sử dụng cá nhân đã vi phạm pháp luật hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có văn bản chuyển về địa phương nơi cư trú xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với ngư i thanh niên tên B và G (không r đặc điểm nhân thân) là nh ng ngư i đã bán trái phép chất ma túy cho Trần Quốc T và mua ma túy của D. Do không đủ thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tìm đư c nh ng ngư i này nên không có căn cứ xử lý.

Quá trình điều tra, các bị cáo T và D đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù h p với biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, biên bản bắt gi ngư i trong trư ng h p khẩn cấp, biên bản khám xét, vật chứng thu gi ; kết luận giám định k thuật hình sự, biên bản kiểm tra d liệu thông tin máy điện thoại di động của Nguyễn Anh D, biên bản nhận dạng, l i khai ngư i làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 46/CT-VKS-TPCL ngày 23 tháng 5 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Trần Quốc T, về tội “Mua án trái ph p ch t ma túy” theo quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh D, về tội “Mua án trái ph p ch t ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Tại phiên tòa,

Các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố.

- Bị cáo D khai nhận, vào khoảng 15 gi 30 phút, ngày 19/10/2022 tại khu vực nhà xe khách sạn P Hotel trên đư ng Tôn Đức T, khóm M, phư ng M, thành phố C, tỉnh Đ, khi đang giao ma túy bán cho Trần Chí C với giá 200.000 đồng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Ma túy bị cáo D bán cho C là do bị cáo D mua của bị cáo T, trong khoảng th i gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 19/10/2022 bị cáo đã mua ma túy của bị cáo T 04 lần. Mục đích mua để sử dụng và bán lại kiếm l i, bị cáo D đã bán ma túy cho C 02 lần với số tiền 500.000 đồng; bán ma túy cho Lê Trọng B 02 lần 400.000 đồng và bán ma túy cho một ngư i tên G không biết rõ nhân thân 03 lần với số tiền 750.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D bán ma túy là 1.650.000 đồng. Bị cáo D thống nhất với kết luận giám định chất ma túy bị cáo D bán cho C là Methamphetamine, có khối lư ng 0,083gam.

- Bị cáo T khai nhận, bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, cùng ngày 19/10/2022 Công an đã thu gi tại nhà riêng của bị cáo địa chỉ tổ S, ấp M, xã M, thành phố C, tỉnh Đ số ma túy loại Methamphetamine có khối lư ng 9,201gam do bị cáo mua của một ngư i đàn ông không rõ nhân thân, mục đích để bán lại kiếm l i. Từ tháng 10/2022 đến trước ngày bị bắt, bị cáo Trung đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng D (G) 02 lần với số tiền 1.200.000 đồng; bán ma túy cho bị cáo D 04 lần vào các ngày 01/10/2022, ngày 11/10/2022, ngày 14/10/2022 và ngày 18/10/2022 với số tiền 3.100.000 đồng. Tổng cộng bị cáo T đã bán ma túy 06 lần với tổng số tiền bán ma túy 4.300.000 đồng. Bị cáo T thống nhất với kết luận giám định chất ma túy bị cáo bán cho bị cáo D và thu gi tại nhà bị cáo có tổng khối lư ng là: 9,284gam, loại Methamphetamine.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh trình bày luận tội: Gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D, phạm tội “Mua án trái ph p ch t ma túy”.

- Áp dụng điểm b, i, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T mức án từ 09 (chín) đến 10 năm tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D mức án từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên xử như cáo trạng đã nêu. Đối với 01 (một) thẻ ATM tên Trần Quốc T thuộc Ngân hàng V đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Trần Quốc T.

Bị cáo D không có ý kiến tranh luận, bào ch a gì đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo T không có ý kiến tranh luận, bào ch a gì đối với luận tội của Kiểm sát viên.

- Luật sư H ào chữa cho ị cáo T trình bày: Thống nhất tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã có ý thức ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khai ra số lần bán ma túy cho Nguyễn Hoàng D, hiện tại bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình, tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình nộp lại số tiền thu l i bất chính 4.200.000 đồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đư c quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm về với gia đình chăm sóc cha mẹ và con nh .

Các bị cáo nói l i nói sau cùng: Bị cáo D không trình bày l i nói sau cùng. Bị cáo T mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo đư c sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và ngư i tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện là h p pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, l i khai của các bị cáo phù h p biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, ngư i làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 15 gi 30 phút, ngày 19/10/2022, tại khu vực nhà xe khách sạn P Hotel trên đư ng Tôn Đức T, khóm M, phư ng M, thành phố C, tỉnh Đ, Công an đã bắt quả tang bị cáo D đang thực hiện hành vi bán trái phép ma túy có khối lư ng 0,083gam loại Methamphetamine cho Trần Chí C với số tiền 200.000 đồng chưa giao nhận tiền và ma túy xong. Bị cáo D khai nhận, trong khoảng th i gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 19/10/2022 bị cáo D đã mua ma túy của bị cáo T 04 lần và bán lại cho Trần Chí C 02 lần với số tiền 500.000 đồng, bán cho Lê Trọng B 02 lần số tiền 400.000 đồng và bán cho một ngư i tên Gà không rõ nhân thân 03 lần với số tiền 750.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D bán ma túy thu đư c là 1.650.000 đồng.

Cùng ngày tại nhà của bị cáo Trần Quốc T địa chỉ tổ S, ấp M, xã M, thành phố C, tỉnh Đ, Công an khám xét và thu gi số ma túy có tổng khối lư ng 9,201gam, loại Methamphetamine mục đích bị cáo T khai để bán lại cho nh ng ngư i nghiện ma túy khác kiếm l i. Từ đầu tháng 10/2022 đến ngày 19/10/2022, bị cáo T đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng D (G) 02 lần với số tiền 1.200.000 đồng, bán ma túy cho bị cáo D 04 lần với số tiền 3.100.000 đồng, tổng cộng bị cáo T đã 06 lần bán trái phép chất ma túy, thu đư c số tiền 4.300.000 đồng.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức đư c ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, ngư i sử dụng ma túy sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức kh e, tinh thần cho chính bản thân, đồng th i cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Các bị cáo nhận thức đư c hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, cho thấy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Đối với bị cáo Trung, bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, lẽ ra sau khi chấp hành án về với gia đình bị cáo phải biết ăn năn hối cải, làm lại cuộc đ i lao động chân chính tạo ra thu nhập chăm sóc cha mẹ già và lo cho con nh nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, lần phạm tội này bị cáo có 03 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên, Methamphetamine có khối lư ng 9,284gam và thuộc trư ng h p tái phạm nguy hiểm; Đối với bị cáo D thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung phạm tội 02 lần trở lên.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập với nhau, không có ngư i tổ chức. Do đó, mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Từ nh ng phân tích nêu trên, hành vi của bị cáo Trần Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái ph p ch t ma túy” theo quy định tại điểm điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua án trái ph p ch t ma túy” theo quy định tại điểm điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội.

Điều 251. Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào mua án trái ph p ch t ma tuý, thì ị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì ị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...

Phạm tội 02 l n tr lên ...

i ..., Methamphetamine,... có kh i lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam ...

q Tái phạm nguy hiểm...”.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt. Riêng bị cáo T do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo đã nộp lại số tiền thu l i bất chính 4.200.000 đồng nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo T khi quyết định hình phạt.

- Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra kh i đ i sống xã hội một th i gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng th i có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lư ng hình Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo đư c áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong các phong bì ký hiệu 962, 963/A3, 963/A4, 963/A5, 963/A6 ngày 20/10/2022; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) n thuỷ tinh; 01 (một) đoạn ống hút màu trắng cắt nhọn 01 đầu; 02 (hai) bật lửa gas; 04 (bốn) bịch nylon có nắp kẹp có viền màu đ ; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ tự chế để sử dụng chất ma túy (01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 n thuỷ tinh); 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 03 đoạn băng keo đen; Nửa t vé số kiến thiết; 01 (một) cái hộp giấy hình ch nhật màu vàng đen.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 550.00 đồng là tiền thu l i bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy (trong đó, 100.000 đồng của bị cáo T bán ma túy và 450.000 đồng của bị cáo D bán ma túy); 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu xanh đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0385706800 không kiểm tra chất lư ng bên trong do bị cáo T sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng – đen, số thuê bao 0907467864, bị bể kính ốp lưng, không kiểm tra chấp lư ng bên trong do bị cáo D sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.

Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu l i bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể: Buộc bị cáo Trần Quốc T phải nộp lại số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng), bị cáo T đã nộp xong số tiền 4.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002996 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Đ; Buộc bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp lại số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng).

Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T 01 (một) thẻ ATM tên Trần Quốc T thuộc Ngân hàng V.

Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Hoàng D, Trần Chí C, Lê Trọng B, Hồ Đức T mua ma tuý của các bị cáo về sử dụng cá nhân đã vi phạm pháp luật hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có văn bản chuyển về địa phương nơi cư trú xử phạt vi phạm hành chính. Đối với ngư i thanh niên tên B và G (không r nhân thân) đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo T và mua ma túy của bị cáo D. Do không đủ thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tìm đư c nh ng ngư i này nên không có căn cứ xử lý.

Về tài sản thu gi không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở h u gồm: Trả cho bà Cao Thị C số tiền 10.000.000 đồng; Trả cho Trần Ngọc Phương T 01 điện thoại Iphone; trả cho V Thị Hồng P 01 xe mô tô biển số 66NA-001.55 nhãn hiệu KWASHAK1, loại 50, màu vàng - đen.

Các vấn đề nêu trên, đã đư c xử lý trong quá trình điều tra, truy tố nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về quan điểm trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xét thấy là có căn cứ, phù h p nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

L i bào ch a của Luật sư bào ch a cho bị cáo Trung tại phiên tòa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D, phạm tội “Mua bán trái ph p ch t ma túy”.

1. Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 09 (chín) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 07 (bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2022.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

[3.1] Tịch thu tiêu hủy:

+ Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong phong bì ký hiệu 962 ngày 20/10/2022;

+ Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong phong bì ký hiệu 963/A3 ngày 20/10/2022;

+ Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong phong bì ký hiệu 963/A4 ngày 20/10/2022;

+ Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong phong bì ký hiệu 963/A5 ngày 20/10/2022;

+ Chất ma túy còn lại sau giám định, niêm phong lại trong phong bì ký hiệu 963/A6 ngày 20/10/2022;

+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng;

+ 02 (hai) n thuỷ tinh;

+ 01 (một) đoạn ống hút màu trắng cắt nhọn 01 đầu;

+ 02 (hai) bật lửa gas;

+ 04 (bốn) bịch nylon có nắp kẹp có viền màu đ ;

+ 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng;

+ 01 (một) bộ dụng cụ tự chế để sử dụng chất ma túy (01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 n thuỷ tinh);

+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng;

+ 03 đoạn băng keo đen;

+ Nửa t vé số kiến thiết;

+ 01 (một) cái hộp giấy hình ch nhật màu vàng đen.

[3.2] Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền 550.00 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền đã đư c nộp vào tài khoản ngân hàng theo Giấy nộp tiền ngày 31/5/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần C).

+ 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu xanh đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0385706800 không kiểm tra chất lư ng bên trong.

+ 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng - đen, số thuê bao 0907467864, bị bể kính ốp lưng, không kiểm tra chấp lư ng bên trong.

[3.3] Buộc bị cáo Trần Quốc T nộp lại số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo T đã nộp xong số tiền 4.200.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0002996 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Đ.

[3.4] Buộc bị cáo Nguyễn Anh D nộp lại số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[3.5] Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T: 01 (một) thẻ ATM tên Trần Quốc T thuộc Ngân hàng V.

(Các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Đ tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 6 năm 2023).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Anh D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ