- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - VPQĐTGGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày: 29 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thanh Thủy.
2. Bà Phạm Thị Minh Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Kim Uyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Vọng- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST- HS ngày 15/3/2023, đối với bị cáo:
Trần Văn H - Tên gọi khác: không; sinh ngày 08 tháng 9 năm 1983, tại huyện Triệu S, tỉnh Thanh H; Nơi cư trú: tổ 1, khu Nam S 2, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1959 và bà: Đỗ Thị H, sinh năm 1962; có vợ: Hoàng Hồng C, sinh năm 1995 và con: có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 23/12/2022. Có mặt.
Bị hại: bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1953. (Đã chết).
Địa chỉ: tổ 2, khu Nam S 1, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Đoàn Văn Đ, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: tổ 2, khu Nam S 1, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: ông Quách Công T, sinh năm 1966. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 26/10/2022, tại quốc lộ 18A thuộc tổ 2, khu Thủy S, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn H (có giấy phép lái xe) điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát (BKS) 14C-230.19 theo hướng Hạ Long - Tiên Yên. Khi đi đến đoạn đường trên, nơi có cảnh báo nguy hiểm, giao nhau với đường không ưu tiên, người đi bộ sang ngang, chỗ quay đầu xe, gờ giảm tốc, khu vực đường đông dân cư nhưng Hiếu đã không chấp hành biển báo và giảm tốc độ đảm bảo an toàn, nên đầu xe ô tô do Hiếu điều khiển đâm vào sườn bên trái xe đạp điện do bà Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm 1953, trú tại tổ 2, khu Nam S 1, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả) điều khiển đi cùng chiều chuyển hướng rẽ trái để sang phần đường Tiên Yên- Hạ Long, làm xe đạp điện bị đổ, bà T ngã xuống đường. H điều khiển xe ô tô trên chở bà T đến Bệnh viện đa khoa khu vực Cẩm Phả cấp cứu, rồi quay lại hiện trường. Hậu quả: xe đạp điện và ô tô bị hư hỏng, bà T bị thương và tử vong ngay khi vào Bệnh viện.
Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường không còn nguyên vẹn, xe ô tô BKS 14C- 230.19 đã di chuyển khỏi hiện trường. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thẳng, phẳng. Khu vực xảy ra tan nạn là khoảng ngắt giao nhau giữa 2 chiều đường rộng 26,6m, có dải phân cách cứng giữa đường. Mép đường bên phải theo chiều Hạ Long- Tiên Yên rộng 8,95m, mặt đường phẳng, thẳng, mặt đường có vạch sơn phân chia 03 làn xe chạy; có 02 gờ giảm tốc (G2.9) có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, có các biển báo W.207a, I.409, I.423b. Số đo được đo vào méo đường bên phải theo chiều Hạ Long- Tiên Yên như sau: Vết cày xước đứt đoạn dài 16,1m có chiều Hạ Long- Tiên Yên, đầu vết cách mép đường là 6,25m, cuối vết nằm dưới chân chống bên phải xe đạp điện. Đầu vết cách đầu dải phân cách cứng về phía Hạ Long là 12,1m; vị trí chiếc dép bên trái của nạn nhân nằm trên chiều đường Hạ Long- Tiên Yên, tâm chiếc dép cách mép đường là 8,9m; vị trí xe đạp điện màu đỏ, đen không gắn biển kiểm số nằm đổ nghiêng bên phải trên chiều đường Hạ Long- Tiên Yên, đầu xe quay hướng Tiên Yên, đuôi xe quay hướng Hạ Long, trục bánh trước cách mép đường là 8,1m, trục bánh sau cách mép đường là 8,8m và cách chiếc dép là 3,7m.
Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan:
Xe ô tô BKS 14C- 230.19: đầu góc lắp cabô trước bên trái bị cong vênh, bẹp móp tỳ đẩy chiều trước về sau, trên xuống dưới kích thước (51x30)cm, điểm thấp nhất cách đất là 102cm; trên diện này bám dính màu đỏ kích thước (7x3)cm, điểm gần nhất cách mép sườn xe bên trái là 50cm, điểm thấp nhất cách đất là 102cm. Mặt ga lăng trước bị trượt xước, rách vỡ, tỳ đẩy chiều trước về sau kích thước (75x40)cm, điểm gần nhất cách mép sườn xe bên trái là 45cm, điểm thấp nhất cách đất là 35cm; trên diện này bám dính màu đỏ kích thước (4x5,5)cm, điểm thấp nhất cách đất là 65,5cm, cách mép sườn xe bên trái là 50cm. Mép trên biển số có vết trượt xước bám dính màu nâu, bị cong vênh, tỳ đẩy chiều trước về sau kích thước (6x0,4)cm, điểm thấp nhất cách đất là 72cm.
Xe đạp điện: xe màu đỏ, đen. Phần sườn xe bên trái phía sau bị cong vênh tỳ đẩy chiều trái sang phải. Khung xương yên sườn xe bên trái bị cong vênh tỳ đẩy chiều trái sang phải. Mặt ngoài giảm sóc sau bên trái bị trượt trùi sạch bụi bám dính màu trắng kích thước (20x5)cm, điểm gần nhất cách tâm trục 10cm, gãy cục nén khí giảm sóc. Đầu giá để chân sau bên trái bị trượt xước bám dinhs màu trắng. Sườn chắn bùn sau bên trái và khung đỡ chắn bùn bị cong vênh tỳ đẩy chiều trái qua phải tỳ sát vào mặt lăn lốp kích thước (22x7,5)cm.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1789/KL- KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận bà Nguyễn Thị Thanh T bị các thương tích: vùng thái dương chẩm trái có vết thương rách da, sưng nề, bờ mép nham nhở, sâu sát xương. Gãy xương sườn 3,4,5,6 bên trái theo đường giữa đòn trái; gãy xương sườn 4,5 bên phải vị trí đường giữa đòn phải. Gãy 1/3 ngoài xương đòn trái. Cột sống mất vững tại cột sống ngực 12 thắt lưng 1 (D12,L1). Tụ máu dưới da vùng đầu. Nguyên nhân chết: sốc đa chấn thương.
Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với Trần Văn H là 0,000mg/L; test nhanh chất ma túy âm tính.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi Trần Văn H điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ đến mức an toàn khi đi đến khoảng ngắt dải phân cách cứng, là khu vực quay đầu xe, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo người đi bộ sang ngang, khu vực đông dân cư và gờ giảm tốc.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn H khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, H còn khai: H thường xuyên điều khiển xe ô tô đi qua đoạn đường trên, nên biết có các biển báo hiệu đường bộ. H điều khiển xe ô tô đi tốc độ khoảng 50km/h, đi sát ở dải phân cách cứng, ở khoảng cách khoảng 30m, H phát hiện bà T dừng xe đạp điện sát mép đường bên phải, ở tư thế đầu xe quay hướng ra đường. H vẫn giữ nguyên tốc độ, khi xe ô tô đi đến khoảng ngắt, thì bà T chuyển hướng rẽ trái sang chiều đường Tiên Yên- Hạ Long, nên phần đầu bên trái xe ô tô của H đâm vào sườn bên trái xe đạp điện của bà T gây tai nạn.
Trần Văn H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 210.000.000 đồng, gia đình bà T không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho H.
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSCP ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260- Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo Trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Trần Văn H từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đoàn Văn Đ (con đẻ của bà T) tổng số tiền 210.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường nữa nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng của vụ án.
Bị cáo Trần Văn H thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đoàn Văn Đ trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Tai nạn xảy ra bà Nguyễn Thị Thanh T (là mẹ đẻ của anh) bị chết. Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình anh tổng số tiền 210.000.000đ(Hai trăm mười triệu đồng). Anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người làm chứng ông Quách Công T trong quá trình điều tra có lời khai về một số tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo, qua tranh tụng tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H thừa nhận: khoảng 08 giờ ngày 26/10/2022, Trần Văn H (có Giấy phép lái xe ô tô theo quy định), điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 14C- 230.19 đi trên quốc lộ 18A hướng thành phố Hạ Long- huyện Tiên Yên. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ 2, khu Thủy S, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, do không giảm tốc độ đảm bảo an toàn khi đến khu vực đông dân cư, có biển cảnh báo nguy hiểm, đường người đi bộ sang ngang, gờ giảm tốc, nên đã đâm vào xe đạp điện do bà Nguyễn Thị Thanh T điều khiển đi cùng chiều chuyển hướng sang phần đường ngược chiều, gây tai nạn. Hậu quả: bà Nguyễn Thị Thanh T bị tử vong, xe máy điện và xe ô tô biển kiểm soát 14C- 230.19 bị hư hỏng nhẹ.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân xảy ra tai nạn do Trần Văn H điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi đi đến nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo người đi bộ sang ngang, khu vực đông dân cư, gờ giảm tốc, gây ra tai nạn nên đã vi phạm khoản 1 Điều 11- Luật giao thông đường bộ; khoản 1, 5 Điều 5- Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải.
Khoản 1 Điều 11- Luật giao thông đường bộ quy định: Chấp hành báo hiệu đường bộ.
“ 1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”;
Khoản 1, 5 Điều 5- Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải bộ quy định:Các trường hợp phải giảm tốc độ.
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...
5. ...; khu vực đông dân cư,...”
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đoàn Văn Đ và của người làm chứng ông Quách Công T. Lời khai của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản kết luận giám định pháp y, video hình ảnh do Cơ quan điều tra thu thập được và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H - phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260- Bộ luật hình sự.
Như vậy, Cáo trạng số 28/CT- VKSCP ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với Trần Văn H là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Điều 260- Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn trật tự của hoạt động giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Tai nạn giao thông đang là vấn nạn trên toàn quốc, hàng năm cướp đi hàng nghìn sinh mạng con người, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, gây tâm lý bất an cho mọi người, để lại nhiều hậu quả xấu cho xã hội.
Bị cáo là người trưởng thành, biết và nhận thức rõ các quy định về an toàn giao thông đường bộ, nhận thức được phương tiện giao thông cơ giới do mình điều khiển là nguồn nguy hiểm cao độ. Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đến nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, khu vực đông dân cư và người đi bộ sang ngang, nên gây ra tai nạn, làm thiệt hại đến tính mạng của bà Nguyễn Thị Thanh T. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, chủ quan, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được lên án và xử lý thỏa đáng, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cũng như góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trong cộng đồng.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại về tính mạng cho đại diện bị hại là anh Đoàn Văn Đ, anh Đ có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T cũng có một phần lỗi (chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn). Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và bị hại cũng có một phần lỗi. Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách tương ứng và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp. Điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt, để bị cáo thấy được sự nhân đạo của pháp luật mà cải tạo mình cho tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không phải là người có chức vụ, không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) chiếc xe đạp điện thuộc sở hữa của bị hại Nguyễn Thị Thanh T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đoàn Văn Đ là phù hợp nên không đề cập.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 14C- 230.19 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Trần Văn H. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Trần Văn H là phù hợp nên không đề cập.
- 01 (một) Giấy phép lái xe số 220064005397 do sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 09/9/2021 mang tên Trần Văn H. Xét thấy bị cáo không hành nghề lái xe mà chỉ sử dụng vào việc cho cá nhân nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) chiếc USB đã qua sử dụng. Đây là tài liệu lưu hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đoàn Văn Đ. Anh Đông không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường nữa nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H: 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn H cho UBND phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Trần Văn H.
Áp dụng: khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn H: 01 (một) Giấy phép lái xe số 220064005397 do sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 09/9/2021 mang tên Trần Văn H (vật chứng lưu hồ sơ vụ án).
Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Cẩm Phả, - Cơ quan THAHS Công an Tp. Cẩm Phả; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả; - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đạt |