vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine và 0,06 gam Methamphetamine là vật chứng còn hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định. Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh túi nilông màu xanh và 01 mảnh túi nilông màu trắng (Chi Cục thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 26-04-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Đoàn

2. Ông: Lưu Tuấn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2023, tại nhà văn hoá bản Chợ, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/ TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Lường Văn Q; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1991 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản CN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lường Văn D, sinh năm: 1964 và con bà Lò Thị N, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ là chị Lò Thị V, sinh năm: 2000 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2017 con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/2/2023 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn Q: Bà Cao Thị B - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lường Văn Q được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 04 tháng 02 năm 2023, tại khu vực bản C, xã BL, huyện MA, Lường Văn Q đã có hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine và 0,1 gam Hồng Phiến (Methamphetamine) mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2023 Lường Văn Q đi bộ từ nhà ra khu vực bản XT1, xã BL, huyện MA tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến khu vực bản XT1, Lường Văn Q gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đang đi bộ ngược chiều. Qua trao đổi Lường Văn Q đã mua được 01 túi ni lông màu xanh bên trong đựng 01 gói Heroine và 01 viên Hồng phiến (Methamphetamine) đều được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 120.000đ. Sau khi mua được ma tuý, Lường Văn Q cầm trong lòng bàn tay trái đi bộ quay về nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Lường Văn Q đang trên đường về thuộc bản C, xã BLthì gặp tổ công tác Công an xã Búng Lao đang làm nhiệm vụ, yêu cầu Lường Văn Q có ma tuý mang ra giao nộp. Lường Văn Q đã tự giác đưa tay trái ra 01 gói ni lông màu đen, bên trong có chứa 01 gói Heroine và 01 viên Hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,15 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine (Hồng phiến).

Ngày 12/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lường Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/02/2023 thì vật chứng thu giữ của Lường Văn Q 01 túi ni lông màu xanh bên trong đựng 01 gói nhỏ gói bằng mảnh túi ni lông màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/02/2023 thì 01 gói Heroine được gói bằng mảnh túi ni lông màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng được gói trong mảnh ni lông màu trắng nghi là Heroine có khối lượng là: 0,15 gam và 01 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine có khối lượng là: 0,1 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 271/KL- KTHS, ngày 12/02/2023 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn Q gồm:

- 0,15 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine;

- 0,1 gam viên nén màu hồng là ma túy: Loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 18/CT - VKSMA, ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lường Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn Q từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine và 0,06 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh túi ni lông màu xanh và 01 mảnh túi ni lông màu trắng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Lường Văn Q.

* Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Lường Văn Q nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lường Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi được tổ công tác yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS khi Quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt; về án phí đề nghị HĐXX miễm án phí cho bị cáo.

Bị cáo Lường Văn Q nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Lời nói sau cùng, Lường Văn Q nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo cụ thể: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 04 tháng 02 năm 2023, tại khu vực bản C, xã BL, huyện MA, Lường Văn Q đã có hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lường Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa Lường Văn Q. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Khối lượng ma túy thu giữ của Lường Văn Q là 0,15 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 0,15 gam + 0,1 gam = 0,25 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Đến năm 2015 xây dựng gia đình. Năm 2018 đăng ký kết hôn với chị Lò Thị V, sinh năm 2000 và có với nhau 02 người con. Bị cáo là người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi được tổ công tác yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; người bào chữa cho bị cáo về hình phạt chưa phù hợp HĐXX không chấp nhận.

. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTH Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,1 gam Heroine và 0,06 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 mảnh túi nilông màu xanh và 01 mảnh túi nilông màu trắng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về nguồn gốc số Heroine, Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên và địa chỉ vào ngày 04/02/2023. Quá trình điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét.

7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, miễn án phí HSST cho bị cáo Lường Văn Q.

. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lường Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 02 năm 2023. Không áp dụng phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine và 0,06 gam Methamphetamine là vật chứng còn hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh túi nilông màu xanh và 01 mảnh túi nilông màu trắng (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Lường Văn Q.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ