vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 10/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS - ST
Ngày: 10/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Đình Long.

2/ Bà Nguyễn Thị Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cát Cảng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 20/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Sinh năm: 1968, tại tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh P.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Phương X (Nguyễn Xuân P) và con bà Nguyễn Thị D (Nguyễn Thị R) (đều đã chết); Vợ là: Lý Thu H, sinh năm 1966; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh G xử phạt 40 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 29/8/2023 cho đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Do đó, vào khoảng 8 giờ ngày 29/8/2023, Nguyễn Văn T đi nhờ xe người đi đường từ nhà ở thôn T, xã E, huyện S, tỉnh P đến thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ, mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến thôn G, T gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, thì người phụ nữ này đồng ý bán và đưa cho T 01 túi nylon màu xanh bên trong có chứa ma túy. T cầm ở tay trái rồi đi bộ ra đường để đi nhờ xe về. Khi đi được khoảng 200m thì bị lực lượng Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại bàn tay trái của T 01 túi nylon màu xanh, bên trong có chứa ma túy, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số: 1056/KL-KTHS ngày 31/8/2023, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 túi nylon màu xanh được niêm phong giám định là Ma túy, có khối lượng 0,2157 gam, loại Heroine. Hoàn lại 0,1828 gam Heroine sau giám định.

Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,1828 gam Heroine (hoàn lại sau giám định).

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận, bào chữa gì, chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về nội dung vụ án, xét hành vi của Nguyễn Văn T mua và tàng trữ 0,2157 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân là phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điểm c khoản 1 điểm Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine …………….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó bị phải cáo nhận thức được hêrôin là chất ma túy gây nghiện làm hủy hoại đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn thỏa mãn cơn nghiện nên vào ngày 29/8/2023, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,2157 gam, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, thể hiện thái độ, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là ông Nguyễn Phương Xuân là liệt sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS.

Đối với quan điểm của VKS nhân dân huyện Krông Năng về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,1828 gam Heroine hoàn lại sau giám định.

Đối với hành vi của người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Văn T, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29/8/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,1828 gam Heroine (hoàn lại sau giám định).

(Đặc điểm như biên bản giao nhận ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ