vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân H - Tàng trữ trái phép chất ma túy ( Điều 249 Bộ luật hình sự 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 19/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hà

Ông Nguyễn Quang Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử (trực tuyến) sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST - HS ngày 24/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 03/4/2023 đối với bị cáo:

Lê Xuân H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Lê Xuân C và con bà Phạm Thị N; có vợ là Trương Thị X (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/7/2013, đưa vào cơ sở chữa bệnh, cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Thanh Hóa; Bản án số 33/2013/HSST ngày 25/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Lê Xuân H 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 23 tháng 10 ngày về tội Trộm cắp tài sản. Lê Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bản án số 271/2013/HSPT ngày 11/12/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. (Đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 22/12/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 14/12/2022, H một mình điều khiển xe máy kiểu dáng Exciter màu đen BKS: 36K5-323.71 từ thôn C, xã Y, huyện K, Hà Nội đi phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, H gặp và mua 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy Heroine của một nam thanh niên không rõ nhân thân đứng ở ven đường với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào ví da màu đen để vào túi quần dài phía trước bên phải của H đang mặc. Sau đó, H điều khiển xe máy đi về khu vực gầm cầu vượt cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 túi ni lông màu trắng bên trong có chứa 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong gói giấy bạc màu vàng, có chứa chất bột màu trắng; 01 ví da màu đen, kích thước 15x10cm, cũ, đã qua sử dụng; 01 xe máy mang nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu đen, BKS: 36K5-323.71, số khung: RLCHG1220MY014182, số máy: G3MSE072945, xe gắn máy cũ đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 8464/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng (để trong 01 túi ni lông màu trắng) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,117 gam.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKSGL ngày 23/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Lê Xuân H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 14/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy và 01 ví da.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan Điều tra, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Hồi 14 giờ 10 phút, ngày 14/12/2022, tại khu vực gầm cầu vượt đường cao tốc Hà Nội -Thái Nguyên thuộc địa phận thôn Q, xã Y, huyện K, Hà Nội bị cáo Lê Xuân H đã có hành vi cất giữ trái phép 0,117 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an huyện K bắt giữ cùng vật chứng. Vì vậy, bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng kinh tế, sức khỏe và chất lượng giống nòi.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự theo quy định của pháp luật đã được xóa. Như vậy, thể hiện bị cáo là người đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo, khi trở về nơi cư trú không cố gắng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng, mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Từ những phân tích trên cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về vật chứng:

- Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 chiếc ví da màu đen, kích thước 15x10cm, cũ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu đen, BKS:36K5-323.71, số khung: RLCHG1220MY014182, số máy: G3M5E072945 qua xác minh là của chị Lê Thị H - Sinh: 1987, trú tại: thôn C, xã N, huyện N, Thanh Hóa là chị gái của Lê Xuân H. Ngày 14/12/2022, chị H không biết H sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Ngày 08/3/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe máy trên cho chị Lê Thị H. Chị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì nên Tòa án không phải xem xét giải quyết.

. Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên PC09 – Công an thành phố Hà Nội, cán bộ công an xã Yên Thường, bị cáo Lê Xuân H. Bên trong có: 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,095 gam (Đã trừ trích mẫu: 0.022 gam); 01 ví da màu đen, kích thước 15x10cm, cũ, đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 24/3/2023 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ