vanban.org

Bản án 52/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-PT
Ngày 10 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm.

Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn, bà Lê Thị Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 44/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Thị H - sinh năm: 1986; Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H1 và bà Nguyễn Thị X; có chồng là Phan Văn L và 02 người con; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án (Bản án hình sự số 22/2020/HS-PT ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 04 tháng tù, phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/7/2020, chưa chấp hành xong quyết định của bản án về phần hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm, hình sự phúc thẩm; Bản án hình sự số 45/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đang trong thời gian chờ chấp hành án thì phạm tội mới); bị bắt, tạm giam: Không. (Có mặt)

Ngoài ra còn có 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 06/10/2022, các đối tượng Đặng Thị H, Lê Thị Q, Mai Thị P và bà C (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến nhà bà Đặng Thị Á để chơi, sau đó các đối tượng rủ nhau chơi đánh bài tứ sắc ăn tiền, nghe vậy bà Á lấy bộ bài tứ sắc có sẵn tại nhà cùng chiếc chiếu lát để H, Q, P và C chơi. Bà Á quy định một bộ bài tứ sắc thay mới sẽ thu 5000 đồng/bộ, ngoài ra bà Á còn chuẩn bị nước uống cho các đối tượng đánh bạc. Mỗi bàn người chơi quy định ăn thua từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Các đối tượng Đặng Thị H, Lê Thị Q, Mai Thị P và bà C chơi đánh bài ăn tiền cùng nhau, chơi được một lúc thì có Trương Thị Thúy N, Nguyễn Thị X1 và Dương Thị O ghé nhà bà Á chơi, nhìn thấy H, P, Q và C đang đánh bạc ăn thua bằng tiền nên ngồi xem. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra và bắt quả tang. Tang vật thu được tại nơi đánh bạc gồm 01 bộ bài tứ sắc 112 lá (đã qua sử dụng), 01 bộ bài tứ sắc 112 lá (chưa sử dụng), 01 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng), 01 chiếc chiếu lát và tiền Việt Nam 90.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: Đặng Thị H mang theo 80.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc khi bị bắt đã thua hết số tiền trên, Lê Thị Q mang theo 511.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc khi bị bắt đã thua 140.000 đồng còn lại 371.000 đồng, Mai Thị P mang theo 40.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt thắng được 10.000 đồng, Lê Thị C1 do chạy thoát và chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa xác định số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, cũng như số tiền thắng thua là bao nhiêu. Số tiền thu tại chiếu bạc là 90.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 721.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo: Đặng Thị H phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/5/2023, bị cáo Đặng Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm; căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đặng Thị H có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 06/10/2022, tại ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, bị cáo Đặng Thị H cùng và 03 đối tượng khác đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài với số tiền dùng đánh bạc chứng minh được là 721.000 đồng. Bị cáo Đặng Thị H đã 02 lần bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 12 (mười hai) tháng tù là tương xứng. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo và có cung cấp chứng cứ chứng minh bị cáo đang mang thai, đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về kháng cáo:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị H.

Sửa bản án sơ thẩm.

2. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Đặng Thị H phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đặng Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Về các vấn đề khác:

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ