- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sang
2. Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bích M, sinh năm: 1985; Địa chỉ: đường T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Hồ Quốc T, sinh năm: 1984; Địa chỉ: đường N, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Dương Thị Bích M trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, giữa bà và ông Hồ Quốc T tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 26/02/2019. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau, ông T không quan tâm đến vợ con. Giữa bà và ông T cũng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà M đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Quốc T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà M và ông T có với nhau 01 người con chung tên là Hồ Quốc T, sinh ngày 05/10/2015. Sau khi ly hôn, bà M xin được quyền nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu ông Hồ Quốc T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M thừa nhận không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 25/4/2023, nguyên đơn Dương Thị Bích M có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn Hồ Quốc T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án. Về tố tụng thì Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Còn về nội dung giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Dương Thị Bích M được ly hôn với ông Hồ Quốc T. Về con chung, giao con chung Hồ Quốc T, sinh ngày 05/10/2015 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Hồ Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Giữa bà Dương Thị Bích M và ông Hồ Quốc T là công dân Việt Nam, có chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay bà M yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Hồ Quốc T, đang sinh sống tại đường N, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập bị đơn hợp lệ nhiều lần. Tuy nhiên, bị đơn Hồ Quốc T vẫn vắng mặt không lý do. Còn nguyên đơn Dương Thị Bích M thì có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa hai vợ chồng và phải có trách nhiệm chăm sóc, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, giữa bà M và ông T không xây dựng hạnh phúc gia đình dựa trên nguyên tắc đó mà lại nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại giữa bà M và ông T cũng đã sống ly thân. Ông T cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để đến Tòa án hòa giải và trình bày ý kiến nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy, ông T không còn thiết tha với cuộc hôn nhân này nữa. Cả hai người không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà M là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà M và ông T có với nhau 01 người con chung là Hồ Quốc T, sinh ngày 05/10/2015. Sau khi ly hôn, bà M xin được quyền nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu T đang sống ổn định cùng với bà M và được chăm sóc, giáo dục tốt. Hơn nữa, cháu T cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ là bà Dương Thị Bích M. Do đó, giao cháu T cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Bích M thừa nhận không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn Dương Thị Bích M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Bà Dương Thị Bích M được ly hôn với ông Hồ Quốc T.
2. Về con chung: Giao cháu Hồ Quốc T, sinh ngày 05/10/2015 cho bà Dương Thị Bích M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Hồ Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông T, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí: Bà Dương Thị Bích M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp theo biên lai thu số 0003022 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng thành tiền án phí của bà M. Như vậy, bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tp. Cần Thơ; - Viện KSND quận Cái Răng; - Chi cục T.H.A.DS quận Cái Răng; - UBND P. Mỹ Bình, Tp. Long Xuyên, AG; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh |