vanban.org

Bản án 52/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị T đối với anh Lò Văn S. Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn S.

2 .Về con chung: Giao cháu Lò Gia H, sinh ngày 06/9/2015 cho anh Lò Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật. Chị Quàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh S. Chị Quàng Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị T đối với anh Lò Văn S. Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2023
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN SÔNG MÃ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị KHển, ông Nguyễn Chí Thành.

Thư ký phiên tòa:

Ông Trần Quốc H - Thư ký tòa án nhân dân Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân -Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định xét xử số: 54/2023/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2022/QĐST- HNGĐ ngày 30/8/2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Quàng Thị T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Bản P, xã M, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn S, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản P, xã M, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 5 năm 2023, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án chị Quàng Thị T trình bày:

Chị và anh Lò Văn S kết hôn với nhau năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mng, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau tại Bản P, xã M, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hai vợ chống sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng tính cách không hợp, quan điểm sống mỗi người khác nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị và anh Lò Văn S đã sống ly thân với nhau được một thời gian. Nay chị S xác định tình cảm không còn vì vậy đề nghị xem xét giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Lò Văn S có với nhau 01 con chung là Lò Gia H, sinh ngày 06/9/2015. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi và chị không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung; Nợ chung: Không có

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh S. Anh S đã được nhận và biết những giấy tờ, thông báo của Tòa án, nhưng do anh S đi làm xa, anh S không đến Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Cả nguyên đơn và bị đơn đều có mặt.

- Nguyên đơn, chị Quàng Thị T vẫn giữ nguyên điểm đề nghị ly hôn.

- Bị đơn, anh Lò Văn S trình bày: Sự việc kết hôn, con chung và tài sản chung đúng như chị T trình bày. Anh mong muốn vợ chồng trở lại đoàn tụ, nhưng chị T một mực đề nghị ly hôn thì anh cũng đồng ý với điều kiện không được gặp con. Về nợ chung: Vợ chồng có cho gia đình chị T vay một khoản tiền, nhưng không có giấy tờ vay mượn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Sông Mã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin được xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt các thủ tục theo quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn với anh Lò Văn S.

- Về con chung: Giao cháu Lò Gia H, sinh ngày 06/9/2015 cho anh Lò Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật. Chị Quàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh S.

- Về tài sản chung; Nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Quàng Thị T được miễn án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

- Bị đơn anh Lò Văn S hiện cư trú tại Bản P, xã M, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La, do vậy Tòa án nhân dân Hện Sông Mã thụ lý, giải quyết là đảm bảo theo quy định tại các Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn chị Quàng Thị T khởi kiện xin ly hôn bị đơn anh Lò Văn S. Vì vậy, xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mng, Hện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào ngày 05/8/ 2014, căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Quàng Thị T và anh Lò Văn S xuất phát từ việc hai vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã gây sự với nhau, anh chị đã sống ly thân với nhau được hai năm, hiện nay không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân vợ chồng T - S ngày 20/7/2023, chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng T - S có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mng năm 2014, có hộ khẩu và sinh sống tại nhà bố mẹ anh S ở Bản P, xã M, Hện Sông Mã; vợ chồng có 01 con chung đang ở với bố mẹ anh S. Quá trình chung sống vợ chồng T - S thường xuyên bất đồng, hay cãi cọ. Hai vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, chị T đã bỏ đi đâu không rõ; còn anh S đi làm thuê, thỉnh thoảng về nhà. Căn cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho anh chị ly hôn là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh S có 01 con chung là cháu là Lò Gia H, sinh ngày 06/9/2015. Hiện nay đang ở cùng anh S và ông bà nội, được anh S lo ăn học, chăm sóc chu đáo đầy đủ.

Tại phiên toà, chị T đồng ý cho anh S nuôi con. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của anh S và cháu Lò Gia H. Do vậy, để đảm bảo mọi quyền lợi cho cháu, để cháu phát triển tốt nhất, cần chấp nhận yêu cầu của anh S là tiếp tục để con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật, chị T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, 82, 83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh T không yêu cầu chị T cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự đều khai nhận không có nên không xem xét, giải quyết.

[6 ] Về nợ chung: Tại phiên toà, chị T xác nhận trước đây vợ chồng có nợ nhưng đã thanh toán xong, hiện không có nợ ai và không còn ai nợ; anh S cho rằng, gia đình chị T có nợ vợ chồng anh khi còn chung sống, nhưng hiện anh chưa có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi nào có căn cứ anh S sẽ khởi kiện ở vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Quàng Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí được Tòa án chấp nhận nên được miễn toàn bộ án phí xin ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 55; 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị T đối với anh Lò Văn S. Xử cho chị Quàng Thị T được ly hôn anh Lò Văn S.

2 .Về con chung: Giao cháu Lò Gia H, sinh ngày 06/9/2015 cho anh Lò Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật.

Chị Quàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh S. Chị Quàng Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3.Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị T và anh Lò Văn S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 22/9/2023.

Cỡ chữ