- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tăng Nữ Xuân L và anh Ngô Trọng D.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; luật Tố tụng dân sự Tòa án; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-6-2023. v/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Nguyễn Văn Tới.
2/Ông Nguyễn Thành Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh– Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/5/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tăng Nữ Xuân L, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
2. Bi đơn: Anh Ngô Trọng D, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 21/11/2022, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chi Tăng Nữ Xuân L trình bày: Chị và anh Ngô Trọng D cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Uy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buôc và đươc gia đình hai bên đông ý. Vơ chông sống với nhau đươc môt thời gian thì xảy ra mâu thuân. Nguyên nhân mâu thuân do không hơp quan điểm sống, vơ chông thường xuyên cãi nhau. Anh D không chăm lo cho gia đình, không phụ giúp chị L trong việc chăm sóc con cái, mọi việc trong nhà môt mình chị L lo liệu. Chị L đã nhiều lần khuyên ngăn anh D để vơ chông hòa giải, hàn gắn nhưng chỉ môt thời gian ngắn là mọi việc lại như cũ, tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuân trầm trọng khiến vơ chông không thể chung sống cùng nhau nữa. Từ tháng 2/2019, vơ chông không còn sống chung và quan hệ tình cảm. Trong thời gian không sống chung thì vơ chông cũng không liên lạc hàn gắn hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vơ chông không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu ly hôn với anh Ngô Trọng D.
- Về con chung: Vơ chông có con chung tên Ngô Tăng Xuân T, sinh ngày 06/9/2009.
Hiện nay con đang sống cùng chị L. Khi ly hôn, chị yêu cầu đươc quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nơ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, do anh Ngô Trọng D vắng mặt nên yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nhà anh Ngô Trọng D để tống D các văn bản tố tụng, anh Ngô Trọng D cố tình lẩn tránh, vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập Biên bản về kiểm tra việc giao nôp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Biên bản hòa giải nên Tòa xét xử vắng mặt đối với anh Ngô Trọng D theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hô sơ vụ án đã đươc thẩm tra tại phiên tòa. Hôi đông xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn anh Ngô Trọng D. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35 và Điều 39 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuôc Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
. Về tố tụng: Xét bị đơn anh Ngô Trọng D đã đươc Tòa án tống D các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng vân vắng mặt 02 lần tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bô luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Ngô Trọng D.
. Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Tăng Nữ Xuân L và anh Ngô Trọng D có đăng ký kết hôn tại Uy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc theo bản sao trích lục kết hôn số 123/TLKH-BS, ngày 26/02/2020 của Uy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, đây là hôn nhân hơp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L, Hôi đông xét xử thấy rằng: Trong vụ án này chị L khai ra nguyên nhân mâu thuân vơ chông là do không hơp quan điểm sống, vơ chông thường xuyên cãi nhau. Anh D không chăm lo cho gia đình, không phụ giúp chị L trong việc chăm sóc con cái, mọi việc trong nhà môt mình chị L lo liệu. Chị L đã nhiều lần khuyên ngăn anh D để vơ chông hòa giải, hàn gắn nhưng chỉ môt thời gian ngắn là mọi việc lại như cũ, tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuân trầm trọng khiến vơ chông không thể chung sống cùng nhau nữa. Từ tháng 2/2019, vơ chông không còn sống chung và quan hệ tình cảm. Trong thời gian không sống chung thì vơ chông cũng không liên lạc hàn gắn hạnh phúc. Xét mâu thuân của chị L và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị L thì anh D không có ý kiến hay đông tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh D vắng mặt không tham dự. Việc anh D không có ý kiến khi chị L xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hôi hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Chứng tỏ, anh D không có thiện chí hòa giải tình cảm để hàn gắn quan hệ vơ chông với chị L, mâu thuân vơ chông của anh, chị không đươc cải thiện, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không D đươc. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
+ Về con chung: Vơ chông có 01 con chung tên Ngô Tăng Xuân T, sinh ngày 06/9/2009.
Hiện nay con đang sống cùng chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu đươc quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con vì chị đủ điều kiện để nuôi con.
Xét yêu cầu giải quyết về con chung của chị L, Hôi đông xét xử thấy rằng: Đối với cháu Ngô Tăng Xuân T, sinh ngày 06/9/2009, đã trên 7 tuổi nguyện vọng của cháu T có yêu cầu đươc ở với me là chị L hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và trong thời gian qua chị L nuôi dưỡng cháu T tốt. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết đinh giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Việc chị L yêu cầu đươc quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Ngô Tăng Xuân T, sinh ngày 06/9/2009 là hoàn toàn phù hơp với quy định của pháp luật, nên Hôi đông xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên Tòa, Hôi đông xét xử đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lơi của con, nhưng chị L tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng vì chị đủ khả năng, điều kiện nuôi con. Vì vậy, Hôi đông xét xử không xem xét, giải quyết.
+ Về tài sản: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về nơ chung: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Tăng Nữ Xuân L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hôi.
Anh Ngô Trọng D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hôi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tăng Nữ Xuân L và anh Ngô Trọng D.
[2]. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Tăng Xuân T, sinh ngày 06/9/2009 cho chị Tăng Nữ Xuân L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét, giải quyết.
Anh Ngô Trọng D đươc quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai đươc cản trở. Vì lơi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
[3]. Về tài sản và nơ: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Tăng Nữ Xuân L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nôp đủ 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0014328 ngày 04 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nên không phải nôp nữa.
Anh Ngô Trọng D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đươc bản án hoặc đươc tống D hơp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. - Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc. - UBND xã Hàm Chính. - Các đương sự. - Lưu: VT, hô sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Đã ký Nguyễn Thị Tâm |