- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cà Thị L - Lê Đình D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________ Bản án số: 52/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 21/4/2023. V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B – TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Hùng;
2. Bà Nguyễn Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên .
Ngày 21/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2023/TLST – HNGĐ ngày 23/02/2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXX
- ST ngày 03/4/2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cà Thị L – Sinh năm 1990 "vắng mặt".
Nơi ĐKHKTT: Thôn T L, xã N H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Nơi ở hiện nay: Bản L, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: Anh Lê Đình D, sinh năm 1983 “vắng mặt”.
NĐKHKTT: Thôn T L, xã N H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Hiện nay: Đang chấp hành án tại đội 17, phân trại số 03, trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 22/02/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, chị Cà Thị L (nguyên đơn) trình bày: 1. Về hôn nhân: Tôi và anh Dũng lấy nhau từ ngày 21/01/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau, chúng tôi đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng. Đến năm 2019 thì chồng tôi vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân huyện Đ B xử phạt 05 năm tù. Hiện nay đang chấp hành án tại đội 17, phân trại số 03, trại giam Yên Hạ, tỉnh Sơn La.
Chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng giữa tôi và anh Dũng không còn, nên tôi làm đơn này xin được đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Dũng.
2. Về con chung: Chị Lan khai vợ chồng có 02 con chung là: Lê Anh Kiệt, sinh ngày 17/8/2011 và Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 05/12/2017.
Chị Lan có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 01/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án anh Lê Đình D (bị đơn) trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và cô Lan lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Chúng tôi kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hai vợ chồng có vài lần mâu thuẫn nhỏ nhưng không nghiêm trọng. Do tôi vi phạm pháp luật và bị xử phạt 05 năm tù, xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, nay cô Lan làm đơn xin ly hôn, tôi không đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Anh Dũng khai vợ chồng có 02 con chung là Lê Anh Kiệt, sinh ngày 17/8/2011 và Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 05/12/2017.
Nguyện vọng của anh Dũng là nếu phải ly hôn thì anh Dũng có nguyện vọng nuôi cả 02 con, không yêu cầu chị Lan phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng do hiện nay anh Dũng đang phải chấp hành án nên anh Dũng yêu cầu giao 02 con chung cho bố mẹ đẻ anh Dũng chăm sóc cho đến khi chấp hành xong hình phạt tù.
Về tài sản: Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương, tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lan phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Lan đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0005145 ngày 23/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Cà Thị L, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lan xin ly hôn với anh Dũng, anh Dũng có hộ khẩu thường trú tại xã N H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS.
. Về điều luật áp dụng: Chị Lan và anh Dũng kết hôn năm 2011, đến năm 2023 thì chị Lan khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà Thị L và anh Lê Đình D lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đến hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và do anh Dũng vi phạm pháp luật và đang chấp hành án. Chị Lan xác định tình cảm của mình đối với anh Dũng không còn nữa. Quá trình giải quyết vụ án chị Lan vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dũng. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị Lan khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lan và áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Cà Thị L và anh Lê Đình D.
. Về con chung: Hai vợ chồng có 02 con chung là: Lê Anh Kiệt, sinh ngày 17/8/2011 và Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 05/12/2017.
Chị Lan có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai của cháu Lê Anh Kiệt là có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.
Tại bản tự khai của anh Lê Đình D là có nguyện vọng được nuôi cả 02 con.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh Dũng đang phải chấp hành án nên không thể giao con cho anh Dũng nuôi được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của chị Lan và giao cháu Kiệt và cháu Như cho chị Lan trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lan không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
.Về tài sản:
. Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lan phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Lan đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0005145 ngày 23/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.
. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì các lý do khác nhau nên nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228/BLTTDS và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267/BLTTDS;
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
1. Tuyên xử: Cho chị Cà Thị L được ly hôn với anh Lê Đình D.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Lan và giao 02 con chung là cháu Lê Anh Kiệt, sinh ngày 17/8/2011 và Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 05/12/2017 cho chị Lan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Chấp nhận yêu cầu của chị Lan về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về Tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lan phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Lan đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0005145 ngày 23/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, chị Lan đã nộp đủ tiền án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273/BLTTDS; Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND H.Đ.B; - Chi cục THSDS H.ĐB; - Các đương sự; - UBND xã N H, H ĐB; - Lưu, HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Đăng Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Lương CHỦ TỌA HỘI THẨM NHÂN DÂN Lường Văn Lương Nguyễn Thị Phương |