- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/DS-ST Ngày: 28-4-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tuyết Mai
2. Ông Nguyễn Văn Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên toà: Ông Tô Minh Phú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm: 1955.
Địa chỉ: đường V, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Ngọc C, sinh năm: 1962; Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: đường B26, khu dân cư B, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Hoàng Tuấn C, sinh năm: 1970.
Địa chỉ: khu vực 1, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Võ Văn T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Vũ Ngọc C trình bày:
Vào ngày 06/7/2021, ông Hoàng Tuấn C có vay của ông Võ Văn T 600.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng. Tuy nhiên, sau khi vay tiền thì ông C mới thanh toán được tiền lãi 50.000.000 đồng, chưa thanh toán nợ vay gốc. Sau đó, ông C cố tình né tránh, không thanh toán tiền nợ vay gốc và lãi theo thỏa thuận cho ông Võ Văn T. Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, ông Võ Văn T khởi kiện yêu cầu buộc ông Hoàng Tuấn C thanh toán nợ vay gốc 600.000.000 đồng và nợ lãi còn thiếu tạm tính đến ngày 06/7/2022 là 9.760.000 đồng. Tổng cộng, nợ gốc và lãi ông Hoàng Tuấn C có trách nhiệm thanh toán là 609.760.000 đồng. Đồng thời, đề nghị tiếp tục tính lãi với mức lãi suất 0.83 %/tháng cho đến khi xét xử sơ thẩm. Ông Võ Văn T chỉ yêu cầu một mình ông Hoàng Tuấn C trả nợ cho ông, ngoài ra không yêu cầu ai khác.
- Bị đơn Hoàng Tuấn C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị buộc bị đơn Hoàng Tuấn C trả tiền nợ vay gốc và lãi cho nguyên đơn tính đến ngày 06/4/2023 tổng cộng là 654.580.000 đồng. Trong đó, nợ vay gốc là 600.000.000 đồng, nợ lãi là 54.580.000 đồng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng thì Kiểm sát viên cho rằng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Còn về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn Hoàng Tuấn C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Võ Văn T cho rằng bị đơn Hoàng Tuấn C có vay của nguyên đơn 600.000.000 đồng được thể hiện thông qua giấy vay tiền lập ngày 06/7/2021. Tuy nhiên, sau khi vay tiền thì bị đơn Hoàng Tuấn C mới thanh toán cho nguyên đơn 50.000.000 đồng tiền lãi.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại giấy vay tiền lập ngày 06/7/2021, có thể hiện nội dung: “Ông Hoàng Tuấn C có nhận vay số tiền của cha Thái N ngụ tại nhà thờ Cái Răng 600.000.000 đồng”. Trong giấy vay tiền này, giữa các bên không thể hiện thỏa thuận về lãi suất và thời hạn vay. Người tên Thái N thể hiện trong giấy vay tiền lập ngày 06/7/2021 là bút hiệu của ông Võ Văn T vì là linh mục nên thường gọi là cha Thái N, điều này được thể hiện tại văn bản xác nhận tên và bút hiệu ngày 25/7/2022 của Giám đốc Đại chủng viện Thánh Quý quận Cái Răng. Tòa án đã nhiều lần mời bị đơn lên làm việc nhưng bị đơn cố tình né tránh, không trình bày ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, giữa nguyên đơn và bị đơn có diễn ra việc vay tài sản, nguyên đơn có giao cho bị đơn số tiền 600.000.000 đồng nhưng bị đơn chưa thanh toán nợ vay gốc cho nguyên đơn.
Về tiền lãi, nguyên đơn cho rằng kể từ ngày vay tiền là ngày 06/7/2021 thì bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn 50.000.000 đồng tiền lãi nên yêu cầu bị đơn thanh toán thêm số tiền nợ lãi còn thiếu đến ngày 06/4/2023 với mức lãi suất 0.83 %/tháng với số tiền là 54.580.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, khi lập hợp đồng vay tiền, không thể hiện thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng nhưng nguyên đơn cho rằng giữa 02 bên có thỏa thuận miệng với nhau mức lãi suất 1%/tháng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tính từ ngày 06/7/2021 đến ngày 06/4/2023 tổng cộng là 21 tháng với mức lãi suất 0,83%/tháng trên số tiền vay gốc 600.000.000 đồng mà bị đơn chưa thanh toán. Như vậy, tổng cộng tiền lãi tính từ ngày vay đến ngày 06/4/2023 là 104.580.000 đồng trừ đi số tiền 50.000.000 đồng tiền lãi mà bị đơn đã thanh toán thì bị đơn còn nợ tiền lãi của nguyên đơn 54.580.000 đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ lãi còn thiếu 54.580.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị buộc bị đơn Hoàng Tuấn C thanh toán tiền vay gốc và lãi tổng cộng 654.580.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu một mình bị đơn trả tiền nợ vay gốc và lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng với bị đơn.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bị đơn Hoàng Tuấn C trả cho nguyên đơn Võ Văn T 654.580.000 đồng. Trong đó, nợ vay gốc là 600.000.000 đồng và nợ lãi là 54.580.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Bị đơn Hoàng Tuấn C phải chịu 30.183.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tp. Cần Thơ; - Viện KSND quận Cái Răng; - Chi cục T.H.A.DS quận Cái Răng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Tuyết Mai Nguyễn Văn Sang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiềm Quốc Khanh |