vanban.org

Bản án 52/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52/2023/DS-ST

Ngày: 30/03/2023

HUYỆN CM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Nga; 2. Bà Nguyễn Thị Ly. Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền – Kiếm sát viên. Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Trương Phú H, sinh năm 1962; nơi cư trú: số 42, tổ 02, ấp NH, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang, có mặt. 2. Bị đơn: Ông Hồ Ngọc L (Út L), sinh năm 1981; nơi cư trú: số 113, tổ 04, ấp NH, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Phú H trình bày: Do chỗ quen biết, nên ngày 29/12/2020 âl (nhằm ngày 10/02/2021 dl) ông có cho ông Hồ Ngọc L vay số tiền 60.000.000 đồng. Việc vay có làm biên nhận, ông đã giao đủ số tiền 60.000.000 đồng cho ông Hồ Ngọc L, mục đích vay ông L nói là để làm vốn chăn nuôi bò và vịt. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng và 03 tháng đóng lãi một lần, thời hạn vay 12 tháng. Sau khi vay xong ông L không đóng lãi cho ông. Sau khi vay ông L không đóng lãi. Đến hạn, ông nhiều lần gặp ông L yêu cầu trả số tiền vay,

nhưng ông L hứa mà không trả vốn cũng như đóng lãi như đã thỏa thuận trong trong biên nhận, hiện nay ông L vẫn còn nợ ông số tiền vốn 60.000.000 đồng. Do đó, ông yêu cầu ông Hồ Ngọc L trả cho ông số tiền vay 60.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 10/02/2021 cho đến ngày xét xử. Tại phiên tòa ông Trương Phú H vẫn nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Hồ Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của ông Trương Phú H. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa. Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. * Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: - Đối với nguyên đơn: Ông Trương Phú H từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. - Đối với bị đơn: Ông Hồ Ngọc L từ khi thụ lý vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về tính lãi suất, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 468 Bộ Luật dân sự để giải quyết. * Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự đề xuất: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Phú H. - Buộc ông Hồ Ngọc L trả cho Trương Phú H số tiền vay 60.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Ông Trương Phú H khởi kiện ông Hồ Ngọc L về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Ông L có nơi cư trú tại ấp NH, xã NM, huyện CM, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Bị đơn ông Hồ Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2]. Về nội dung: Ngày 10/02/2021, ông Trương Phú H cho ông Hồ Ngọc L vay số tiền 60.000.000 đồng có làm biên nhận được các bên ký xác nhận và thỏa thuận hoàn trả trong thời hạn 12 tháng. Đến hẹn ông H nhiều lần yêu cầu trả lại số tiền nhưng ông L hứa mà không thực hiện đúng như thỏa thuận. Ông yêu cầu ông L trả lại số tiền 60.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày vay 10/02/2021 cho đến ngày xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng trên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp. Do ông Hồ Ngọc L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận nên ông phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho ông H. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án ông L đã được Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc khởi kiện của ông H và triệu tập đến tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến gì về việc ông H khởi kiện và vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Phú H buộc ông Hồ Ngọc L có nghĩa vụ trả cho ông Trương Phú H số tiền 60.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. [3]. Ngoài yêu cầu trả vốn, ông H còn yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 10/02/2021 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Xét thấy, do ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H, nên ông H yêu cầu tính lãi suất là có cơ sở. Tuy nhiên, trong giấy biên nhận ngày 10/02/2021 hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/ tháng là cao hơn so với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của ông H từ ngày 10/02/2021 theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi được tính như sau: Từ ngày 10/02/2021 đến ngày 30/3/2023 là 778 ngày; số tiền lãi được tính: 60.000.000 đồng x 0,056%/ngày x 778 ngày = 25.933.000 đồng. [4]. Từ những nhận định trên có căn cứ buộc ông Hồ Ngọc L có nghĩa vụ trả cho ông Trương Phú H số tiền vốn 60.000.000 đồng và tiền lãi 25.933.000 đồng. [5]. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Phú H và xử như sau: Buộc ông Hồ Ngọc L có nghĩa vụ trả cho ông Trương Phú H số tiền vốn 60.000.000 đồng và lãi 25.933.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 85.933.000 đồng (tám mươi lăm triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. + Về án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Hồ Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.296.000đ (bốn triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn) đồng. - Ông Trương Phú H được miễn nộp tạm ứng án phí do ông là người cao tuổi. Do đó ông không được hoàn lại tiền tạm ứng án phí. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ