vanban.org

Bản án 52/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L.

Buộc ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H 308.600.000 (ba trăm lẻ tám triệu sáu trăm ngàn) đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 108.600.000 đồng tiền lãi. “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án ( đối với các khoả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 52/2023/DS- ST
Ngày: 25-9-2023.
V/v “Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy THnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyễn Thị H.
thụ lý số 117/2023/TLST- DS ngày 14 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng
15/9/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Hải T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị
Thu H, sinh năm 1974. Địa chỉ: số 9A Bế Văn Đàn, tổ 15, thị trấn Di Linh, huyện
Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
1974 và ông Phạm Quốc V, sinh năm 1987. Cùng trú tại: số 56 Phạm Ngũ Lão, tổ
15, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
Bị đơn: ông Phạm Văn H, sinh năm 1962 và bà Vũ Thị L, sinh năm
nghị xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt.
Hôm nay, ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo L,
ngày 25 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 88/2023/QĐST-DS ngày

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09-7-2023 cùng những lời trình bày của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện: Do có quen biết nên ngày 18/7/2020 ông T, bà H có cho ông H, bà L vay số tiền 200.000.000 đồng, hai bên có ký hợp đồng vay được văn phòng công chứng Phan Văn Minh Hoàng ký công chứng ngày 18/7/2020, chữ viết và ký vào bên người mượn tiền là của ông H, bà L. Khi vay hai bên có thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày hợp đồng vay được ký và chứng nhận. Đến hạn, ông T, bà H có đòi tiền nhiều lần nhưng ông H, bà L không trả. Nay ông T, bà H khởi kiện yêu cầu ông H, bà L phải trả cho ông T bà H số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất như sau: Lãi trong hạn từ ngày 18/7/2020 đến 18/01/2021 là 6 tháng x 1%/tháng = 12.000.000 đồng.

Lãi quá hạn: từ ngày 19/01/2021 đến 25/9/2023 là 32 tháng 06 ngày, lãi suất 1,5%/tháng = 96.600.000 đồng.

Tổng cả gốc và lãi là 308.600.000 đồng

Yêu cầu ông H, bà L trả cho ông T, bà H tổng cả gốc và lãi là 308.600.000 đồng.

Tòa án đã tiến Hnh phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng hòa giải không được.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên.

Sau khi Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải

T và bà Nguyễn Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L.

Buộc ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L có trách nhiệm trả cho ông

Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất trong hạn, quá hạn theo quy định của pháp luật.

Về án phí : Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà L được Tòa

án triệu tập hợp lệ vắng mặt không có lí do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: nguyên đơn ông Nguyễn Hải T

và bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L phải trả số tiền vay là 200.000.000 đồng và lãi suất phát sinh nên xác định quan hệ “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hải T và bà

Nguyễn Thị Thu H, đối chiếu tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thấy rằng: Theo giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án được đánh số bút lục 34, 35, 36 thể hiện ngày 18/7/2020 ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L có vay của ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 1%/tháng, thời hạn trả nợ sáu tháng kể từ ngày hợp đồng vay được ký và chứng nhận, ký và ghi họ tên bên vay Phạm Văn H và Vũ Thị L.

Nên ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện là có căn cứ

và đúng pháp luật vì ông T, bà H xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là hợp đồng vay tiền được văn phòng công chứng Phan Văn Minh Hoàng ký công chứng ngày 18/7/2020, có chữ ký bên vay của ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L. Do vậy áp dụng các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự, cần buộc ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H số tiền vay nợ gốc là 200.000.000 đồng.

Về lãi suất áp dụng khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự cần buộc ông H, bà L phải chịu lãi xuất như sau: Lãi trong hạn từ ngày 18/7/2020 đến 18/01/2021 là 6 tháng x 1%/tháng x 200.000.000đ = 12.000.000 đồng.

Lãi quá hạn: từ ngày 19/01/2021 đến 25/9/2023 là 32 tháng 06 ngày, lãi suất 1,5%/tháng x 200.000.000đ = 96.600.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do ông H, bà L phải trả cho ông T, bà H 200.000.000 đồng tiền vay và 108.600.000 đồng tiền lãi nên ông H, bà L phải nộp 15.430.000 đồng án phí DSST, tuy nhiên ông H là người già trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên cần miễn án phí cho ông H, buộc bà L phải nộp 7.715.000 đồng án phí DSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 207; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L.

Buộc ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị L có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H 308.600.000 (ba trăm lẻ tám triệu sáu trăm ngàn) đồng, trong đó 200.000.000 đồng tiền vay và 108.600.000 đồng tiền lãi.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi Hnh án ) cho đến khi thi Hnh án xong bên phải thi Hnh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Hnh án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

2/Về án phí: căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bà Vũ Thị L phải nộp 7.715.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, miễn

án phí Dân sự sơ thẩm số tiền 7.715.000 đồng cho ông Phạm Văn H.

Ông Nguyễn Hải T và bà Nguyễn Thị Thu H được nhận lại số tiền 7.537.500 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012934 ngày 14/7/2023 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Bảo L.

3/ Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 25/9/2023 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự.”

Cỡ chữ