- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/ST - HNGĐ Ngày 24/5/2022. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Kha Văn Minh, ông Lương Văn Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2022/TLST - HNGĐ ngày 02/3/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXX – ST ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vy Thị X, sinh năm 1976
Bị đơn: Anh Vy Văn K, sinh năm 1969.
Đều có địa chỉ: Bản Diềm, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chị X có mặt, anh K vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Vy Thị X trình bày: Chị với anh Vy Văn K về ở với nhau từ năm 1994 đến ngày 16/11/2006 chị với anh K đến Ủy ban nhân dân xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An làm thủ tục kết hôn. Việc chị và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến cuối năm 2006 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do quan niệm sống không phù hợp, anh K không chịu khó làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ, con. Mặc dù trước đó đã được chị cũng như hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và vợ, chồng đã ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Vy Văn K.
Về con chung: Chị và anh Vy Văn K có 03 người con chung với nhau là Vy Văn S, sinh ngày 15/4/1995, Vy Văn N, sinh ngày 23/7/2002, Vy Văn Ng, sinh ngày 23/3/2006. Nay cháu S và cháu N đã đủ tuổi trưởng thành, việc ở với bố hay mẹ do các cháu quyết định, sau ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Ng và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị và anh Vy Văn K không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Vi Văn K (anh trai anh K) để thông báo cho anh K biết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Vy Văn K vắng mặt và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83 và Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Vy Thị X được ly hôn anh Vy Văn K, giao cháu Vy Văn Ng cho chị Vy Thị X nuôi dưỡng, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh Vy Văn K, chị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 06/5/2022 bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn Tòa án đã giao Quyết định hoãn phiên tòa có ấn định thời gian mở lại phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh K là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vy Thị X và anh Vy Văn K về sống chung với nhau từ năm 1994, đến năm 2006 mới làm thủ tục kết hôn tại UBND xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Mặc dù làm thủ tục kết hôn, nhưng đã xẩy ra mâu thuẫn do quan niệm sống không phù hợp, anh K không chịu khó làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ, con. Việc vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và đã ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Vy Thị X và anh Vy Văn K thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vy Thị X là có căn cứ.
Về con chung: Chị và anh Vy Văn K có 03 người con chung với nhau là Vy Văn S, sinh ngày 15/4/1995, Vy Văn N, sinh ngày 23/7/2002 và Vy Văn Ng, sinh ngày 23/3/2006. Nay cháu S và cháu N đã đủ tuổi trưởng thành, việc ở với bố hay mẹ do các cháu quyết định. Còn cháu Vy Văn Ng quá trình giải quyết cháu muốn được ở với mẹ, hơn nữa hiện nay anh K không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu Ng. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Vy Văn Ng cho chị Vy Thị X trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh K là hợp lý.
Về tài sản chung: Chị Vy Thị X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Vy Văn K có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Vy Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vy Thị X ly hôn anh Vy Văn K.
Về con chung: Giao cháu Vy Văn Ng, sinh ngày 23/3/2006 cho chị Vy Thị X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vy Văn K. Anh Vy Văn K có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Vy Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị X đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000625 ngày 02/3/2022. Chị X đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Châu khê; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |