- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Tiến K phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Tiến K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày: 28-3-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đông
Bà Nguy n Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Di m – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 224/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Trịnh Tiến K, sinh năm 1984 tại tỉnh T. Nơi cư tr : Khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ h c vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Tiến T và bà Nguy n Thị M; có v là Nguy n Thị H và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại điều tra; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguy n Thị H, sinh năm 1993 (chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguy n Văn M, sinh năm 1971 và bà Trần Thị T, sinh năm 1970; cùng cư trú: Ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (là cha mẹ ruột của bị hại; bị hại chưa có chồng, con); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quy n lợi, nghĩa v liên quan đến v án: Công ty TNHH Long Minh P; trụ sở: Số 405/12, đường X, Phường 24, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Long Minh P: Ông Đinh Huỳnh Q, sinh năm 1981 – Nhân viên Công ty (là người đại diện theo ủy quyền) có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Trịnh Tiến K có Giấy phép lái xe hạng C số 750094005099 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 06/3/2015, có giá trị đến ngày 06/3/2020. Khởi là tài xế của Công ty TNHH Long Minh P.
Chị Nguy n Thị H có Giấy phép lái xe hạng A1 số 791137895482 do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/12/2013, có giá trị không thời hạn. Chị H là công nhân may của Công ty TNHH nội thất Đ, địa chỉ tại số 96D26, Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 26/7/2018, K điều khiển xe ôtô tải hiệu SHACMAN, màu xám, tải tr ng 17.000 kg, biển số 51C-925.10 lưu thông trên đường N14 theo hướng đi từ giao lộ đường N14 và đường Nguy n Văn T về hướng giao lộ đường N14 và đường L. Khi lưu thông đến gần đến giao lộ đường N14 và đường L, đoạn qua Khu phố 4, phường H, thành phố T, K bật tín hiệu chuyển hướng bên phải và giảm tốc độ rồi điều khiển xe ôtô rẽ phải vào Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T nằm ở góc giao lộ. Do chuyển hướng thiếu quan sát và không đảm bảo an toàn, nên để phần bên phải đầu xe ôtô tải biển số 51C-925.10 va chạm vào phần đuôi xe môtô hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 84K1-125.67 do chị Nguy n Thị H điều khiển đang lưu thông cùng chiều trên làn đường dành cho xe môtô, làm chị H bị ngã vào gầm xe ôtô tải và bị bánh sau bên phải của xe cán qua người chết tại chỗ, xe môtô bị hư hỏng nhẹ.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đư c lập vào l c 09 giờ ngày 26/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định như sau:
- Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại đường N14, đoạn qua khu khố 4, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đoạn đường N14 là đường hai chiều, mỗi bên gồm 02 làn đường bao gồm làn đường thứ nhất dành cho xe môtô, xe máy các loại, làn đường thứ hai dành cho xe ôtô các loại. Giữa đường có phân cách bằng hai vạch sơn màu vàng liên tục, song song nhau. Mặt đường N14 đư c tráng nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không hạn chế, tình hình phương tiện qua lại trên đường đông.
- Điều kiện thời tiết: Ban ngày, trời nắng, ánh sáng tự nhiên.
- Hiện trường đư c đo vẽ lấy điểm mốc là mép phải đường N14, theo hướng đi từ giao lộ đường N14 và đường Nguy n Văn T về hướng đường N14 và đường Nguy n Văn L làm mép lề chuẩn. Lấy mép phải đường L, theo hướng đi từ giao lộ đường L và đường D5 về hướng giao lộ đường L và đường Trần Quốc T làm mép lề chuẩn.
- Dấu vết tại hiện trường:
+ Xe ôtô tải biển số 51C-925.10 đang nằm trên khu vực sân xi măng ngay phía trước Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T tại giao lộ đường N14 và đường L, đoạn qua Khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đầu xe quay hướng chéo vào đường L và hướng về giao lộ đường L và đường Trần Quốc T. Trục bánh trước bên trái xe cách mép phải đường N14 (theo hướng đi từ giao lộ đường N14 và đường Nguy n Văn T về hướng giao lộ đường N14 và đường Nguy n Văn L) là 13,3 m và cách mép phải đường L (theo hướng đi từ giao lộ đường L và đường D5 về hướng giao lộ đường L và đường Trần Quốc T) là 19,3 m, trục bánh sau bên trái xe cách mép phải đường N14 là 9,7 m. Xe ôtô tải có 02 vết phanh trên mặt sân xi măng phía trước Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T, bao gồm: Vết phanh thứ nhất dài 16,3 m, điểm bắt đầu vết phanh này cách mép phải đường N14 là 2,8 m, điểm kết thúc của vết phanh này trùng với bánh sau bên phải xe; vết phanh thứ hai dài 15,4 m, điểm bắt đầu vết phanh này cách mép phải đường N14 là 1,8 m. Điểm kết thúc vết phanh này trùng với vị trí bánh sau bên trái xe.
+ Xe môtô biển số 84K1-125.67 đang nằm trên sân xi măng ngay trước Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T, tình trạng ngã sang trái, đầu xe quay hướng chéo vào trong Cửa hàng và hướng về giao lộ đường N14 và đường Nguy n Văn T. Trục bánh trước xe cách mép phải đường N14 là 5,8 m, trục bánh sau xe cách mép phải đường N14 là 5,1 m và cách trục bánh sau bên phải xe ôtô biển số 51C-925.10 là 12,4 m.
+ Tử thi Nguy n Thị H đang nằm trên nền sân xi măng ngay trước Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T, tình trạng nằm p, đầu tử thi quay về hướng mép phải đường N14, hai tay co vào trong, chân phải co, chân trái duỗi thẳng, đầu tử thi cách mép phải đường N14 là 3,9 m.
+ Vết cày mặt đường của xe môtô biển số 84K1-125.67 không liên tục kéo dài từ mặt đường N14 đến sân xi măng trước Cửa hàng xăng dầu Phụng Tân T và kết thúc tại vị trí xe mô tô này, vết cày dài 15 m, điểm bắt đầu vết cày cách mép phải đường N14 là 1,1 m và cách đầu tử thi Nguy n Thị H là 10,2 m.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 27/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe môtô biển số 84K1-125.67 như sau:
- Vỡ ốp nhựa nửa bên trái đèn sau và đèn tín hiệu chuyển hướng bên trái, kích thước (14 x 8) cm, vết này cao cách nền đất là 64 cm.
- Vỡ kim loại tay nắm sau cạnh bên trái kích thước (29 x 10) cm, dính vết màu đen kích thước (7 x 1,5) cm, vết này cao cách nền đất là 78 cm.
- Trầy xước ốp nhựa ngay phía trên đèn tín hiệu chuyển hướng phía sau bên trái, kích thước (10 x 6) cm, vết này cao cách nền đất là 64 cm.
- Trầy xước ốp nhựa ngay trước đèn tín hiệu chuyển hướng phía sau bên trái kích thước (3 x 4) cm, vết này cao cách nền đất là 55 cm.
- Trầy xước mặt ngoài ốp nhựa bộ phận l c gió kích thước (28 x 13) cm, vết này cao cách nền đất là 29 cm.
- Mặt ngoài lốc máy bị trầy xước và dính vết màu đen trên diện rộng kích thước (11 x 5) cm, vết này cao cách nền đất 15 cm.
- Trầy xước đầu tay thắng bên trái.
- Trầy xước đầu tay cầm bên trái.
- Trầy xước cánh bửng trái.
- Trầy xước ốp nhựa bên trái của sàn để chân (bút lục số 10-11).
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 27/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe ôtô biển số 51C-925.10 như sau:
- Trầy xước cao su mặt ngoài bánh trước bên phải, chiều hướng ngư c chiều kim đồng hồ, kích thước (30 x 4) cm, điểm gần nhất vết này cách trục bánh xe là 45 cm.
- Hệ thống bánh trước bên phải gồm có hai bánh nối tiếp nhau, mặt ngoài bánh sau bị trầy xước cao su, chiều hướng ngư c chiều kim đồng hồ, kích thước (46 x 6) cm, điểm gần nhất của vết này cách trục bánh xe là 34 cm.
- Thanh sắt ngang phía dưới của bộ phận cản hông bên phải tại vị trí đầu phía trước bị trầy xước trên diện rộng kích thước (38 x 5) cm, điểm thấp nhất vết này cao cách nền đất là 52 cm.
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 611/GĐPY ngày 28/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Biến dạng đầu mặt.
- Vỡ biến dạng xương hộp s , vỡ có nhiều mảnh rời.
- Mô não dập, rách nát toàn bộ thoát gần hết ra ngoài.
- Gãy xương sống mũi.
- Vỡ xương gò má hai bên.
- Gãy xương hàm trên dưới.
2. Nguyên nhân chết: Do đa chấn thương, chấn thương s não.
Ngày 18/8/2018, người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Long Minh P và Trịnh Tiến K đã thỏa thuận với ông Nguy n Văn M và bà Trần Thị T (cha mẹ ruột của bị hại) bồi thường chi phí mai táng cho bị hại số tiền 180.000.000 đồng. Ông M và bà T không yêu K phải bồi thường thêm; đồng thời, có đơn xin bãi nại và đề nghị mi n truy cứu trách nhiệm hình sự cho Trịnh Tiến K.
Quá trình điều tra xác định: Xe ôtô tải hiệu SHACMAN, màu xám, tải tr ng 17000kg, biển số 51C-925.10 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Long Minh P; ngày 22/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả chiếc xe ôtô trên cho Công ty TNHH Long Minh P. Đối với xe môtô hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 84K1-125.67 thuộc quyền sở hữu của chị Nguy n Thị H; ngày 22/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả chiếc xe môtô trên cho cha của chị H là ông Nguy n Văn M. Đối với thiệt hại của chiếc xe môtô trên, do xe chỉ bị hư hỏng nhẹ, nên ông Nguy n Văn M và bà Trần Thị T không yêu cầu định giá thiệt hại và không yêu cầu K phải bồi thường chi phí sửa chữa xe.
Tại Cáo trạng số 255/CT-VKS-HS ngày 26/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Trịnh Tiến K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Tiến K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 5, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Tiến K từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án đã giải quyết xong nên không đề nghị giải quyết.
Tại phần tranh luận, bị cáo Trịnh Tiến K không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đã đề nghị.
Ông Đinh Huỳnh Q không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Trịnh Tiến K nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức đư c hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ già và con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Tiến K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y tử thi, kết luận giám định phương tiện và các chứng cứ, tài liệu đã đư c thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ ngày 26/7/2018, Trịnh Tiến K đã có hành vi điều khiển xe ôtô tải hiệu SHACMAN, màu xám, biển số 51C-925.10 chuyển hướng đột ngột, thiếu quan sát và không đảm bảo an toàn nên để xảy ra va chạm với xe môtô hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 84K1-125.67 do chị Nguy n Thị H điều khiển lưu thông cùng chiều trên làn đường dành cho xe môtô, xe máy dẫn đến hậu quả chị H chết tại chỗ. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trịnh Tiến K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc về an toàn giao thông đường bộ đư c quy định tại khoản 19 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ; nguyên nhân dẫn đến va chạm giao thông là do lỗi của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại đư c pháp luật bảo vệ. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết việc điều khiển xe không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức chấp hành pháp luật kém, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên bị cáo đã để xảy ra va chạm phương tiện giao thông đường bộ làm cho bị hại chết; hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; người đại diện h p pháp của bị hại có đơn bãi nại và đề nghị mi n trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có cha đư c tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba và bị cáo đang phải nuôi dưỡng cha mẹ già và con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư tr rõ ràng, bị cáo nhất thời phạm tội nên có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo đư c mi n chấp hành hình phạt tù có điều kiện nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo đang nuôi cha mẹ già và con còn nhỏ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là “cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định” đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong; người đại diện h p pháp của bị hại không có yêu cầu nào khác, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên không đặt ra xử lý.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Tiến K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Trịnh Tiến K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (28/3/2022). Giao bị cáo Trịnh Tiến K cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường h p người đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đư c hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trịnh Tiến K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện h p pháp của bị hại đư c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - UBND phường Phước Tân, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |