- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày 29 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Lương Văn P, sinh năm 1984 tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ 9, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T và bà Bùi Thị T (tên gọi khác: Bùi Thị T1); vợ: Chưa có; con: Có 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/9/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2019); bị tạm giữ từ ngày 28/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 03/01/2022 đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Ông Sa Ngọc S, sinh năm 1978; vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Đinh Hữu Th, sinh năm 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 28/12/2021, Lương Văn P đi bộ từ chỗ ở tại tổ 9, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam ra đường Lê Chân kéo dài thì gặp bạn nghiện mới quen (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô Wave (không rõ biển kiểm soát) đến và rủ P đi mua ma túy về sử dụng, P đồng ý và đưa cho người này 130.000đ, người này góp thêm 70.000đ rồi cả hai đi đến đoạn đường Nguyễn Văn Cừ thuộc tổ 6, phường L, thành phố P gặp và hỏi mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết, người bạn nghiện đưa cho người đàn ông này 200.000đ, người này cầm tiền rồi đưa lại cho P 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi bỏ đi, biết bên trong có ma túy nên P không mở ra kiểm tra mà cầm cất vào túi áo khoác đang mặc rồi cùng người bạn nghiện đi tìm chỗ sử dụng. Khi cả hai vừa đi được một đoạn thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam đang trên đường đi làm nhiệm vụ, thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, P xuống xe thì người bạn nghiện lợi dụng sơ hở điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy thoát. Tại chỗ P tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy bạc màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, P khai nhận đó là gói ma túy, mục đích cất giấu để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa P cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone, vỏ màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Cùng ngày Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam chuyển hồ sơ, đối tượng và vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 28/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn P tại tổ 9, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 281/PC09-MT ngày 02/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,144 gam loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS-PL ngày 25/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Lương Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lương Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời gian được tính kể từ ngày 28/12/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Heroine được hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone vỏ màu đen.
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lương Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy của cơ quan chuyên môn, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 28/12/2021, tại tổ 6, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Lương Văn P đang cất giấu trái phép 01 gói ma túy, khối lượng 0,144gam loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo Lương Văn P là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có khả năng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản đã thu giữ:
- Đối với số ma túy loại Heroine được hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone, vỏ màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về các tình tiết khác của vụ án:
- Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Bị cáo khai mua của người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ tại đường Nguyễn Văn Cừ thuộc tổ 6, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
- Đối với người bạn nghiện bị cáo khai gặp ở đường Lê Chân, phường L, thành phố P cùng góp tiền và rủ bị cáo đi mua ma túy, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý phối hợp với Công an phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Văn P phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Xử phạt: Bị cáo Lương Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 12 năm 2021.
3/ Xử lý vật chứng và tài sản đã thu giữ:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi mẫu vật hoàn trả QT01, số 281/PC09 - MT và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone, vỏ màu đen, số IMEI1: 352246072904744, IMEI2: 352246072904751.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng được xác định theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 13/4/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
4/ Án án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lương Văn P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND TP Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Chi cục THADS TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Lưu HSVA; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |