- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12( mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ngày 17/01/2022.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52 /2022/TLST-HS Ngày 29/4/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Danh P
Ông Trần Văn H
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá K - Thư ký tòa án nhân dân huyện Y - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnY tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Văn N- chức vụ: Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: không) - sinh ngày 27 tháng 7 năm 1992, tại xóm Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Minh H và bà Đặng Thị T; vợ, con: Trần Thị A và 4 con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2022 đến nay. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.
Người làm chứng: Ông Hồ Văn L- sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 15/01/2022 Nguyễn Văn H sử dụng điện thoại di động của mình gọi điện đến số thuê bao của Phan Văn T- sinh năm 1992 trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An để hỏi mua ma túy về sử dụng thì Phan Văn T đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán cà phê Shins House ở xã Đ. Nguyễn Văn H đi bộ đến quán café gặp T đưa cho T 100.000 đồng, T nói với H chờ đó. Một lúc sau T quay lại đưa cho H 1 túi ni lông màu trắng bên trong có chứa 1 viên nén màu hồng nghi là ma túy. Mua được ma túy H đi về nhà, vào khoảng 9h 30 phút ngày 17/1/2021 H đi tìm chỗ sử dụng ma túy, khi đi đến đoạn đường gần quán café S thì bị tổ công tác công an xã Đ huyện Y phát hiện bắt quả tang
Tại bản Kết luận giám định số 249/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 23/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén hình tròn màu hồng và số viên nén hình tròn màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn H có khối lượng là 0,115 gam (không phẩy một trăm mười lăm gam)”.
Cáo trạng số: 49/CT-VKS-YT ngày 04/4/2022 của VKSND huyện Y, Nghệ An truy tố bị can Nguyễn Văn H về Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:
-Căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12-15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Hình phạt bổ sung: không.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
+/ Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lông màu trắng cùng phong bì niêm phong vật chứng ban đầu
+/ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H: Xét vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ ngày 17/1/2022 tại khu vực xóm Y, xã Đ, huyện Y tổ công tác công an xã Đ, huyện Y phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,115 gam ma túy Methamphetamin với mục đích sử dụng Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo khoản 1 điều 249 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đây là một vụ án rất nghiêm trọng, xét hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật. Ma túy là nguyên nhân cña nhiÒu téi ph¹m h×nh sù nghiªm träng kh¸c nh giÕt ng êi, c íp tµi s¶n. Ma túy ®ang lµ mèi hiÓm häa cho toµn nh©n lo¹i, b¶n th©n bÞ c¸o hoµn toµn nhËn thøc ® îc viÖc lµm trái pháp luật cña m×nh nhưng vẫn bất chấp hậu quả. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc với bị cáo để phục vụ cho nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn. Đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn H có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Đây là tình tiết cần xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 1 viên ma túy có trọng lượng 0,115 gam ma túy (methamphetamin) đã đưa đi giám định hiện chỉ còn 1 phong bì đã được niêm phong bên trong chứa vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H: Xét vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước
Đối với người có tên Nguyễn Văn T, quá trình điều tra T đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa có căn cứ xử lý
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 điều 249; điểm s, khoản 1 điều 51 BLHS:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12( mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ngày 17/01/2022.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong trong bì thư công an huyện Y và vỏ giấy niêm phong ban đầu (vật chứng hiện chuyển giao cho chị cục thi hành án dân sự huyện Y tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số NK 089 ngày 20/ 4 /2022)
+ Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H
(Vật chứng hiện chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho NK 090 ngày 20/4/2022)
Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND, CA H. Y - TAND tỉnh Nghệ An - THA DS H. Y - Bị cáo; Sở tư pháp - lưu HS vụ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị H |