- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày 12/5/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đường Anh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ;
Ông Nguyễn Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 21/6/1991; tên gọi khác: Xị; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 22/11/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu; bị cáo có mặt.
2/ Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 07/7/1998; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Lê Thị N, sinh năm 1965; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 22/11/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu; bị cáo có mặt.
3/ Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 15/11/2000; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Lê Thị N, sinh năm 1965; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 22/11/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu; bị cáo có mặt.
4/ Họ và tên: Bùi Văn Q, sinh ngày 02/5/1986; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1964; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất, có vợ là Trịnh Thị Hồng H, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 16/12/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 21/11/2021, tại phòng trọ của Bùi Văn Q, sinh năm 1986, tạm trú ấp 5, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P đến cùng uống rượu. Trong lúc uống rượu T rủ đi mua ma túy về sử dụng, Q và P đồng ý, T sử dụng điện thoại hiệu Iphone X gọi cho Nguyễn Văn C nhờ mua ma túy, C đồng ý và hẹn T đến cửa tiệm thuốc tây Hoàng Chương. T sử dụng xe mô tô biển số 60F3-340.04 chở P và Q đến cửa tiệm thuốc tây Hoàng Chương nhìn thấy C đứng chờ. P và Q ở lại chờ, còn T điều khiển xe mô tô biển số 60F3-340.04 chở C đi về hướng ấp Bình Ý, xã Tân Bình. Trên đường đi T đưa cho C 300.000 đồng mua ma túy, đến gần ngã ba ấp Bình Ý, xã Tân Bình, C nói T dừng lại đứng chờ ở ngoài đường 768. C xuống xe đi bộ và sử dụng điện thoại hiệu Iphone 7 gọi cho đối tượng tên Thảo có số điện thoại xxxx.xxx.xxx để mua ma túy. Khoảng 10 phút sau C đi ra, cùng T về lại cửa tiệm thuốc tây Hoàng Chương. Lúc này 00 giờ ngày 22/11/2021, tổ tuần tra Công an xã Thạnh Phú đi đến trước tiệm thuốc Hoàng Chương thuộc ấp 4, xã Thạnh Phú phát hiện 04 người đang ngồi nói chuyện, Nguyễn Văn C thấy Công an đã ném xuống đất 01 gói nilon được hàn kín hai đầu cách khoảng 01 mét. Công an xã Thạnh Phú kiểm tra phát hiện 01 bịch nilon (Bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý). Nguyễn Văn C khai nhận bịch nilon là ma tuý đá, C và T mua về để sử dụng. Công an xã Thạnh Phú tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu để xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, biển số 60F3-340.04, có Giấy chứng nhận đăng ký xe do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2019 mang tên Nguyễn Văn T (bản sao); 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng của Nguyễn Văn C; 01 bịch nilon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng của Nguyễn Văn C.
Tại Kết luận giám định số: 2246/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2021 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2496gam, loại Methamphetamine. Sau giám định mẫu vật còn lại 0,2198 gam trong niêm phong số 2246/KLGĐ-PC09.
Bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSVC ngày 13/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn C từ 14 tháng đến 16 tháng tù;
Nguyễn Văn T từ 14 tháng đến 16 tháng tù;
Nguyễn Văn P từ 12 tháng đến 14 tháng tù;
Bùi Văn Q từ 12 tháng đến 14 tháng tù;
Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; về án phí các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo không phát biểu tranh luận và không trình bày lời bào chữa.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ ngày 22/11/2021, tại ấp 4, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 0,2496 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Thạnh Phú phát hiện lập biên bản bắt giữ người trong trường hợp phạm tội quả tang, chuyển giao cho Công an huyện Vĩnh Cửu xử lý.
Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q thống nhất với Nguyễn Văn T mua ma túy về sử dụng, đã phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức.
Các bị cáo đồng ý với Kết luận giám định số: 2246/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2021 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và không có ý kiến gì thêm.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q đã thống nhất mua ma túy về cất giữ cùng nhau sử dụng nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia tội phạm của từng bị cáo trong vụ án thể hiện;
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Mặc dù biết tác hại của ma túy, biết ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý về việc cất giữ, vận chuyển cũng như mua bán các loại chất này; tuy nhiên bản thân các bị cáo lại cùng rủ nhau đi mua ma túy về cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật. Bị cáo T là người khởi xướng việc đi mua ma túy về sử dụng và đã cùng C đi mua ma túy; bị cáo P và Q khi được T rủ đi mua ma túy về sử dụng đã đồng ý để T đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, là phạm tội với vai trò đồng phạm người giúp sức về mặt tinh thần. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng, hình phạt dành cho bị cáo T và C ngang nhau và cao hơn bị cáo P và Q, để các bị cáo lấy đó làm bài học cho mình mà tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong thời gian tạm giam các bị cáo C và Q đều bị nhiễm bệnh Covid-19 nên sức khỏe có phần giảm sút; các bị cáo T và P là hai anh em ruột với nhau; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định hình phạt cho từng bị cáo mà vẫn đạt được yêu cầu của việc phòng và chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung, theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do các bị cáo có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu số 2246/KLGĐ-PC09 ngày 01/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng do liên quan đến tội phạm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, biển số 60F3-340.04, màu đen đỏ, số máy CGA1ID207240, số khung MH8DL11AZKJ207233, có Giấy chứng nhận đăng ký xe số 250353 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2019 mang tên Nguyễn Văn T (bản sao), là phương tiện T sử dụng đi mua ma túy.
Đối với đối tượng tên Thảo, sử dụng số điện thoại xxxx.xxx.xxx có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đang tiếp tục xác minh để có căn cứ xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 45, Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2021.
Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2021.
Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2021.
Bị cáo Bùi Văn Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu số 2246/KLGĐ-PC09 ngày 01/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại Iphone X, màu trắng; 01 điện thoại di động loại Iphone 7, màu trắng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, biển số 60F3-340.04, màu đen đỏ, số máy CGA1ID207240, số khung MH8DL11AZKJ207233, có Giấy chứng nhận đăng ký xe số 250353 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/9/2019 (bản sao). (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉTXỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đường Anh Sơn |