vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 31/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày: 31/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Phụng

Ông Lâm Mây

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham

gia phiên toà: Ông Cao Thanh Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022, thông báo thay đổi thời gian xét xử số 12/TBTA ngày 23/8/2022 đối với bị cáo:

Lê Minh Đ, sinh ngày 04/10/1988, tại Thanh Hóa; HKTT: Thôn 1, Phúc Bồi, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: ấp 6A, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Vũ Ngọc, sinh năm 1944 và bà Hoàng Thị Hân, sinh năm 1948. Vợ Hoàng Thị Hòe, sinh năm 1993. Có 01 người con sinh năm 2013.

Tiền án: Không; tiền sự: Không

Bị tạm giữ từ ngày 03/4/2022 sau đó tạm giam đến ngày 20/6/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ một ngày đầu tháng 3 năm 2022, Lê Minh Đ gặp một người tên Tuấn Anh (không rõ nhân thân, lai lịch) tại quán nước “Bờ Hồ” thuộc khu phố Ninh Thạnh, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh. Biết Đ làm tại quán Karaoke nên Tuấn Anh hỏi Đ có cần nhân viên nữ phục vụ quán không, Đ trả lời là có và Tuấn Anh nói là dưới thành phố Hồ Chí Minh có quen một số nữ nhân viên cần việc làm, nếu cần thì đi với Tuấn Anh xuống xem mặt, Đ đồng ý. Lúc 12 giờ cùng ngày, Tuấn Anh dùng xe máy hiệu Sirius chở Đ xuống thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 16 giờ đến khu vực quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh thì Tuấn Anh rủ Đ đi hát karaoke tại quán “Victory”. Sau khi vào phòng karaoke, Tuấn Anh gọi thêm 02 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) và một số tiếp viên nữ vào hát cùng và hỏi Đ “bay không”, Đ hỏi “bay là gì”, Tuấn Anh nói “uống thuốc lắc, cắn kẹo với nghe nhạc” và Tuấn Anh nói Đ đưa 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) để mua ma túy khay, Đ đồng ý. Ngồi hát karaoke một lúc, Tuấn Anh lấy thuốc lắc đưa cho mỗi người 01 viên, còn 01 viên trong bịch nylon đưa cho Đ và nói uống đi thì Đ không uống mà lấy bịch nylon chứa ma túy bỏ vào túi quần bên phải rồi cùng hát karaoke, sau đó Tuấn Anh cầm đĩa ma túy khay nói với Đ “hít một đường đi, không sao đâu”, Đ cầm ống hút hít một đường ma túy trên dĩa rồi tiếp tục ngồi hát. Một lúc sau, Đ nằm ngủ trong phòng karaoke, đến khoảng 18 giờ cùng ngày khi ngủ dậy không thấy ai trong phòng, Đ ra hỏi nhân viên thì biết là Tuấn Anh và những người cùng hát karaoke đã về nên Đ trả tiền karaoke hết 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn) và đón xe taxi đi về nhà thuê tại ấp 6A, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, khi về đến phòng trọ Đ lấy bịch nylon chứa viên thuốc lắc màu xám nhét vào phía trong miếng dán tường màu hồng ở trên tường phía trong bên phải cửa ra vào.

Vào lúc 06 giờ ngày 03/4/2022, công an huyện Lộc Ninh kiểm tra phòng ngủ của Đ phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh, 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) cuộn tròn, 03 bịt nylon miệng kéo dính và 01 bịch nylon chứa chất rắn màu xám ở dưới miếng dán tường màu hồng ở trên tường phía trong bên phải cửa ra vào (Đ khai là thuốc lắc), ngoài ra Cơ quan cảnh sát điều tra còn thu giữ 01 điện thoại hiệu Iphone của Lê Minh Đ.

Tại kết luận giám định số 74/2022/GĐ-MT ngày 08/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Chất rắn màu xám (ký hiệu M2) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,4827 gam (không phẩy bốn tám hai bảy gam)

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKS, ngày 18/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố Lê Minh Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ từ 15 đến 18 tháng tù. Cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Thời gian bị tạm giam, bị cáo đã rất hối hận, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Ngày 03/4/2022 tại ấp 6A, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Lê Minh Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,4827 gam ma túy dạng MDMA.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đ khai nhận số ma túy mà bị cáo cất giấu trong phòng là do Tuấn Anh đưa cho bi cáo trong lúc hát karaoke nhưng bị cáo không sử dụng, khi về nhà thì lấy cất. Bị cáo không có ý định sử dụng và cũng không có ý bán hoặc cho ai khác. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn cất giấu trong nhà.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người tên Tuấn Anh, quá trình điều tra xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

Đối với bà Hoàng Thị Ánh Hồng, khi cho Đ thuê nhà không biết sự việc Đ cất giấu ma túy trong nhà nên không đặt vấn đề xử lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi tàng trữ ma túy với bất kỳ lý do gì cũng là vi phạm pháp luật hình sự nên cần có một hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cha mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng, cha bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ của bị cáo là thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến từ năm 1965 đến năm 1968 nên bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo từ 13 đến 15 tháng.

Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ đã bỏ đi nên bị cáo còn phải nuôi 01 con nhỏ và cha mẹ già, xét thấy đề nghị của kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với chất rắn màu xám là ma túy loại MDMA có khối lượng là 0,4827 gam đã sử dụng hết trong quá trình giám định;

- Đối với 01 điện thoại có chữ Iphone màu trắng là tài sản của Lê Minh Đ không liên quan đến vụ án nên trong quá trình điều tra đã trả lại cho Lê Minh Đ.

- Đối với 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh không còn tiền trong tài khoản, 01 bì thư ký hiệu M1 chứa bịch nylon miệng kéo dính kích thước (7x4) cm đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M2 chứa bịch nylon miệng kéo dính kích thước (8x5,5) cm đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M3 đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M4 chứa 03 bịch nylon miệng kéo dính, mẫu tóc thu giữ của Lê Minh Đ không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn qua giám định có thành phần chất ma túy liên quan trực tiếp đến hành vi tàng trữ ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 01 năm (môt) 03 (ba) tháng tù, Cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Lê Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước ( Nơi bị cáo đang cư trú) giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh, 01 bì thư ký hiệu M1 chứa bịch nylon miệng kéo dính kích thước (7x4) cm đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M2 chứa bịch nylon miệng kéo dính kích thước (8x5,5) cm đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M3 đã mở niêm phong, 01 bì thư ký hiệu M4 chứa 03 bịch nylon miệng kéo dính, mẫu tóc thu giữ của Lê Minh Đ, 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006925 ngày 22/8/2022 của Chi cục thi hành án huyện Lộc Ninh và ủy nhiệm chi ngày 22/8/2022)

4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa áùn.

Bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000 đồngán phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản ántrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Phước; -VKSND huyện Lôc Ninh;

- Bị cáo.

- Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Lôc Ninh;

- Lưu hồ sơ.

Lê Thành Liêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ