- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-PT Ngày: 15 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Thảo
Ông Nguyễn Đức Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2022/TLPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo Phạm Văn C và Hà Văn T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Văn C, sinh năm 1984, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn … T, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Bán vé xổ số; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P và bà Dương Thị L (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (vắng mặt).
2. Hà Văn T1, sinh năm 1983, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Trung T3 và bà Bùi Thị T; có vợ Nguyễn Thị T và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2011/HSST ngày 19/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt Hà Văn T1 4.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong bản án trên vào ngày 26/5/2011; bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Ngoài ra trong vụ án có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn C làm đại lý bán vé xổ số cho Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình từ tháng 01/2021, vào các buổi chiều hàng ngày C ngồi ghi xổ số ở nhà thuê của anh Trần Văn K tại thôn ... T, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nhận thấy việc mua bán số lô, số đề mang lại lợi nhuận cao nên C đã nảy sinh ý định bán số lô, số đề cho khách qua đường để kiếm lời. Khoảng tháng 11/2021, Hà Văn T1 thống nhất hàng ngày T1 sẽ sử dụng số điện thoại 0911.400.6… nhắn tin đến số điện thoại 0779.360.7… của C để mua bán số lô, số đề và thanh toán thắng thua vào ngày hôm sau.
Việc quy ước cách thức chơi số lô, số đề của các đối tượng thống nhất được thua dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày có tổng số 27 giải thưởng, trong đó có 01 giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy.
Đối với số đề: Có hai loại gồm đề 02 số và đề 03 số. Hình thức này dựa trên hai hoặc ba số cuối cùng của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để làm căn cứ đối chiếu việc trúng thưởng. Nếu người chơi trúng thưởng số đề loại 02 số thì được trả số tiền gấp 70 lần và người chơi trúng thưởng số đề loại 03 số thì được trả số tiền gấp 400 lần.
Đối với số lô: Có hai loại gồm số lô thường và lô xiên, trong đó:
Số lô Hà Nội dựa trên hai số cuối của tất cả các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày để làm căn cứ để đối chiếu việc trúng thưởng. Giá trị của 01 điểm lô thường 23.000 đồng, nếu trúng thưởng 01 giải (hay còn gọi là 01 nháy) thì người chơi nhận được số tiền 80.000 đồng. Trong trường hợp người chơi trúng nhiều giải thì sẽ được trả thưởng nhân lên tương đương với số lần trúng giải thưởng đó.
Đối với “lô xiên” có 03 loại gồm: Lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4. Căn cứ để đối chiếu việc trúng thưởng cũng dựa trên hai số cuối của tất cả các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày tương tự như lô thường. Tuy nhiên khác với lô thường người chơi chỉ phải chọn một cặp số tự nhiên thì người chơi lô xiên 2 phải chọn hai cặp số đối với lô xiên 2 hoặc ba đến bốn cặp số đối với loại lô xiên 3, lô xiên 4. Trong trường hợp người chơi trúng lô xiên 2 thì được trả số tiền gấp 10 lần, trúng lô xiên 3 thì được trả số tiền gấp 40 lần; lô xiên 4 được trả số tiền gấp 100 lần số tiền mà người chơi đã bỏ ra mua các cặp số lô xiên đó.
Với cách thức chơi như trên trong khoảng thời gian từ ngày 14/12/2021 đến ngày 02/01/2022, C và T1 đã 10 lần đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Ngày 14/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 11.250.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 80.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 14/12/2021 là 91.250.000 đồng.
Lần thứ 2: Ngày 15/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 10.000.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 không trúng thưởng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 15/12/2021 là 10.000.000 đồng.
Lần thứ 3: Ngày 22/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 2.250.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 3.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 22/12/2021 là 5.450.000 đồng.
Lần thứ 4: Ngày 23/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 3.200.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 3.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 23/12/2021 là 6.400.000 đồng.
Lần thứ 5: Ngày 24/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 3.200.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 3.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 24/12/2021 là 6.400.000 đồng.
Lần thứ 6: Ngày 27/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 15.750.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 không trúng thưởng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 27/12/2021 là 15.750.000 đồng.
Lần thứ 7: Ngày 28/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 3.375.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 2.400.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 28/12/2021 là 5.775.000 đồng.
Lần thứ 8: Ngày 30/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 2.250.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 8.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 30/12/2021 là 10.250.000 đồng.
Lần thứ 9: Ngày 31/12/2021, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 8.000.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 không trúng thưởng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 31/12/2021 là 8.000.000 đồng.
Lần thứ 10: Ngày 02/01/2022, T1 nhắn tin cho C mua số lô Hà Nội với số tiền là 4.500.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng thưởng số tiền 4.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C và T1 sử dụng để đánh bạc ngày 02/01/2022 là 8.500.000 đồng.
Các lần đánh bạc nêu trên C và T1 đều đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Ngày 05/01/2022, Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, trú tại thôn … T, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình ngồi bán xổ số tại nhà thuê ở thôn … T, xã T, huyện G. Khoảng 17 giờ 55 phút cùng ngày, Đặng Trung Q, sinh năm 1974 trú tại thôn… T, xã T, huyện G đến mua của H các số lô, số đề với số tiền 1.700.000 đồng. Sau đó H chụp ảnh các số lô, số đề đã bán cho Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng hồng, bên trong lắp số thuê bao 0915.610…. đăng ký tài khoản Zalo “Hên Xui” nhắn tin hình ảnh đến tài khoản Zalo “A... Của nợ” của C để C tự tổng hợp và thanh toán thắng thua với Q. Khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã T, huyện Gia Viễn đến nhà ông Phạm Văn T2, sinh năm 1964 tại thôn .. T, xã T, huyện G thì phát hiện C ngồi một mình tại phòng khách nhà ông T2 đang thực hiện hành vi bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động. Khi nhìn thấy lực lượng Công an, C đã cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đập xuống nền nhà làm chiếc điện thoại bị vỡ bung màn hình đồng thời xé 01 tờ giấy tập hợp các số lô, số đề cho vào miệng nhai nát. Sau đó C khai nhận sử dụng chiếc điện thoại trên để nhắn tin bán số lô, số đề với H và T1.
Cơ quan điều tra Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình đã thu giữ:
- Thu giữ của Phạm Văn C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đã bị vỡ, bung màn hình; 01 mảnh giấy ghi các chữ và số kích thước (09x13) cm. Tại bàn nơi C ngồi ghi bán số lô, số đề 01 mảnh giấy, kích thước (15x21) cm ghi các chữ, số và hình vẽ; 01 chiếc bút bi màu xanh. Thu trong người C số tiền 3.400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh.
- Thu giữ của Hà Văn T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu trắng.
- Thu giữ tại bàn ghi số lô, số đề của Nguyễn Thị H: số tiền 5.173.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh dương; 01 tờ cáp bên trong có ghi các chữ và số liên quan đến việc mua bán số lô, số đề ngày 05/01/2022 có chữ ký của H; 01 bảng tổng hợp mua bán số lô, số đề và 01 chiếc bút bi màu xanh. H tự nguyện giao nộp 01 bảng cuống vé kê số dự thưởng xổ số lô tô của Nhà nước ngày 05/01/2022.
- Thu giữ của Đặng Trung Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, vỏ màu đen.
- Khám xét khẩn cấp tại gia đình Phạm Văn C thu giữ: Tại đầu giường phòng ngủ 12 bảng tổng hợp số lô, số đề; tại bàn uống nước ngoài sân 02 tờ cáp đề ghi ngày 03 và 04/01/2022.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C và Hà Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Phạm Văn C 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Hà Văn T1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp; xử lý vật chứng; quyền kháng cáo cho các bị cáo và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2022 bị cáo Hà Văn T1 có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương. Ngày 10 tháng 10 năm 2022 bị cáo Phạm Văn C có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, các con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã nộp một phần tiền phạt, tiền truy thu và xuất trình thêm tài liệu mới lập công chuộc tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn C và Hà Văn T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân G, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm r, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Văn T1 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận sự tự nguyện nộp tiền của các bị cáo.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo T1: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 03 tháng 10 năm 2022 bị cáo Hà Văn T1 có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo cải tạo tại địa phương; ngày 10 tháng 10 năm 2022 bị cáo Phạm Văn C có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương. Đơn kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà bị cáo Phạm Văn C vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Phạm Văn C.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo Phạm Văn C tại Cơ quan điều tra ; phù hợp với biên bản sự việc lập ngày 05/01/2022 tại gia đình ông Phạm Văn T2; biên bản vi phạm hành chính lập ngày 05/01/2022 tại bàn bán vé xổ số của chị Nguyễn Thị H và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/12/2021 đến ngày 02/01/2022, Hà Văn T1 đã 10 lần nhắn tin để mua các số lô, số đề trái phép của Phạm Văn C trong đó ngày đánh bạc với số tiền ít nhất là 5.450.000 đồng, ngày đánh bạc số tiền nhiều nhất là 91.250.000 đồng. Tổng số tiền Hà Văn T1 đánh bạc với Phạm Văn C là 167.775.000 đồng, trong đó có 01 lần đánh bạc với số tiền trên 50.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn C, Hà Văn T1 xin được giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian từ ngày 14/12/2021 đến ngày 02/01/2022, các bị cáo đã 10 lần nhắn tin để mua bán số lô, số đề trái phép là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước khi tội phạm được phát hiện các bị cáo đã tự thú; hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; ông Hà Trung T3 là bố đẻ của bị cáo Hà Văn T1 là thương binh là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặt khác bị cáo Hà Văn T1 có nhân thân xấu năm 2011 đã bị Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt về tội “Đánh bạc” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội mới. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của các bị cáo, xem xét áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Phạm Văn C 03 năm tù; bị cáo Hà Văn T1 03 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, không nặng
Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Phạm Văn C xuất trình thêm tài liệu mới gồm công văn số 617/CSĐT ngày 20/10/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nam Định xác nhận bị cáo Phạm Văn C đã tích cực giúp cơ quan Cảnh sát điều tra bắt 2 đối tượng Bùi Trí T4 và Nguyễn Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép 0,164 gam Heroine; bố bị cáo ông Phạm Văn P là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; ngày 17/11/2022 bị cáo đã tự nguyện nộp 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/0001919 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tình Ninh Bình.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Hà Văn T1 xuất trình thêm tài liệu mới Giấy xác nhận: Là người tích cực hợp tác với Cơ quan Công an huyện M, tỉnh Điện Biên cung cấp thông tin để bắt 2 đối tượng Bùi Mạnh T5 và Lưu Thái L có hành vi mua bán trái phép 76,58 gam Heroine và 09 viên ma tuý tổng hợp, giấy xác nhận ngày 24/10/2022; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; mẹ bị ung thư dạ dày có xác nhận của Bệnh viện K trung ương; ngày 26/9/2022 bị cáo đã tự nguyện nộp 200.000 đồng tiền án phí theo Biên lai thu tiền số AA/0002008 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G; ngày 05/12/2022 bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/0002020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của các bị cáo được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là “người phạm tội đã lập công chuộc tội” và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình.
Các bị cáo Phạm Văn C và Hà Văn T1 đều có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có 1 tình tiết tăng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo là giảm hình phạt tù cho các bị cáo; bác kháng cáo xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương của bị cáo Hà Văn T1, bác kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương của bị cáo Phạm Văn C, vì vậy cần sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình về hình phạt tù, áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và mức hình phạt bằng nhau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm r, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn C và Hà Văn T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
2. Xử phạt:
2.1. Bị cáo Phạm Văn C 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022); phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo Phạm Văn C đã nộp 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/0001919 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Ninh Bình.
2.2. Bị cáo Hà Văn T1 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022); phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo Hà Văn T1 đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số AA/0002008 ngày 26/9/2022 và 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/0002020 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Ninh Bình.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Hà Văn T1 và Phạm Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/12/2022.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND tỉnh Ninh Bình (3 bản); - Phòng kiểm tra nghiệp vụ THA (1 bản); - TAND huyện G (4 bản); - VKSND huyện G (1 bản); - CA huyện G (1 bản); - Chi cục THADS huyện G (1 bản); - Phòng HS&NV Công an tỉnh (1 bản); - Trại tạm giam (2 bản); - Bị cáo (2 bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1 bản); - Lưu hồ sơ (2 bản); - Lưu tòa và Tổ hành chính tư pháp (2 bản); | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tô Văn Thịnh |